vanban.org

Bản án 98/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Lệ H ly hôn ông Mai Văn Q.

Về nuôi con chung: Giao con chung Mai Xuân P, sinh ngày 10/12/2018 cho Hằng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà H yêu cầu ly hôn ông Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Lệ H ly hôn ông Mai Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XM
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Quốc Thanh

2. Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2022/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1997 (có mặt).

Hộ khẩu thường trú: Khu phố L, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: Ấp 3, xã HH, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Bị đơn: Ông Mai Văn Q, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn PB, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-6-2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H trình bày:

Về hôn nhân: Bà đăng ký kết hôn với ông Mai Văn Q tại Ủy ban nhân dân thị trấn PB, huyện XM vào ngày 27/12/2017. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai mai mối, ép buộc. Sau khi kết hôn bà H và ông Q chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q chơi bời, chơi game, không chịu khó làm ăn, nuôi con cái. Khi bà phát hiện ông Q nghiện game và có sử dụng ma tuý thì bà H nhờ cha mẹ ông Q khuyên bảo nhưng cha mẹ ông Q cho rằng bà H đang nói xấu ông Q nên giữa bà H với cha mẹ ông Q có mâu thuẫn và lời qua tiếng lại, ngoài ra tiền bạc ông Q đi làm không đưa cho bà H, thậm chí ông Q còn lấy tiền vàng cưới của vợ chồng để chơi game. Hiện nay, bà H và ông Q không còn chung sống với nhau nữa. Nay bà H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Q không còn nên bà xin ly hôn với ông Q.

Về nuôi con chung: Bà và ông Q có 01 con chung tên Mai Xuân P, sinh ngày 10/12/2018, hiện cháu P đang ở với bà H. Bà H yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08-8-2022 và trong quá trình tố tụng tại Toà bị đơn ông Mai Văn Q trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà H chung sống với nhau vào năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn PB, huyện XM. Hôn nhân giữa ông và bà H là tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn thì ông và bà H chung sống tại nhà ông Q cùng với cha mẹ của ông Q. Khi sống chung thì cha mẹ ông Q giúp đỡ vợ chồng rất nhiều từ khi bà H bị bệnh đến khi bà H sinh đẻ nhưng bà H nhiều lần xúc phạm bố mẹ ông Q, thậm chí còn vu khống và có những lời lẽ không hay đối với bố mẹ ông Q. Bản thân ông Q đã nhiều lần góp ý để bà H thay đổi nhưng bà H vẫn chứng nào tật nấy nên vợ chồng thường hay cãi nhau, lúc nóng ông Q có tát bà H nhưng bà H cũng đánh lại ông Q, bản thân ông Q cố nhịn để vợ chồng chung sống cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng bà H vẫn không biết điều. Ông Q có chơi game nhưng vẫn đi làm và đưa tiền cho bà H nuôi con. Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ông Q mới không đưa tiền cho bà H. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông Q không đồng ý. Ông Q muốn bà H cùng ông Q và 2 bên gia đình nói chuyện lý do vì sao bà H lại xúc phạm bố mẹ ông Q, không có chuyện bà H xúc phạm bố mẹ ông Q rồi yêu cầu ly hôn là xong chuyện. Hiện nay bà H đã về nhà cha mẹ bà H ở Hoà Hưng sinh sống, vợ chồng không sống chung với nhau nữa.

Về nuôi con chung: Ông Q và bà H có 01 con chung là Mai Xuân P, sinh ngày 10/12/2018, hiện cháu P đang sống cùng bà H. Nếu ly hôn ông Q đồng ý để bà H nuôi và ông Q không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung, ông Q không đồng ý ly hôn với bà H. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Lệ H yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Mai Văn Q nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông Q có địa chỉ cư trú tại huyện XM nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà H và ông Q đăng ký hôn vào ngày 27/12/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn PB, huyện XM nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống theo bà H đến đầu năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tình tình không hòa hợp, ông Q chơi game và còn sử dụng ma tuý, không chịu đi làm lo cuộc sống gia đình, con cái, giữa bà H với bố mẹ ông Q cũng xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng hay cãi nhau, có lần còn xảy ra xô sát, còn theo ông Q vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, chủ yếu là do bà H nhiều lần xúc phạm đến bố mẹ ông Q và có những lời lẽ không hay đối với bố mẹ ông Q bản thân ông Q đã khuyên bảo nhưng bà H không thay đổi nên vợ chồng có lời qua tiếng lại và xảy ra xô sát. Tuy nhiên ông Q không muốn ly hôn và muốn vợ chồng cùng 2 bên gia đình nói chuyện về việc vì sao bà H xúc phạm bố mẹ ông Q. Thậm chí bà H còn lên mạng nói xấu bố mẹ của ông Q.

Kết quả xác minh cho thấy: Bà H và ông Q chung sống với nhau vào năm 2017 tại Khu phố L cùng với bố mẹ ông Q, ở địa phương không thấy bà H và ông Q xảy ra mâu thuẫn nhưng hiện nay bà H và ông Q không sống chung với nhau nữa. Bà H và ông Q có 01 con chung hiện sống với bà H, còn ông Q sống với bố mẹ ông Q ở Khu phố L, thị trấn PB.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân bắt nguồn từ tình cảm tự nguyện của hai bên và bền chặt được cũng dựa trên sự tồn tại của cảm xúc, tình cảm tự nguyện từ hai phía, một trong hai bên dù có quyết tâm, tình cảm đến đâu mà phía còn lại không còn, không tự nguyện đều không đạt được mục đích của hôn nhân là sự chia sẽ, cảm thông, hòa hợp và hạnh phúc. Bà H và ông Q đưa ra nhiều nội dung không thống nhất về nguyên nhân, lý do vợ chồng mâu thuẫn nhưng xác định vợ chồng mâu thuẫn là có thật. Tại Tòa, bà H khẳng định không còn tình cảm với ông Q và cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông Q là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở để xem xét nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Bà H và ông Q khẳng định có 01 con chung là Mai Xuân P, sinh ngày 10/12/2018. Nếu ly hôn bà H yêu cầu nuôi không yêu cầu ông Q cấp dưỡng, ông Q cũng đồng ý để bà H nuôi và không cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Giao con chung Mai Xuân P cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Bà H và ông Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Lệ H ly hôn ông Mai Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Mai Xuân P, sinh ngày 10/12/2018 cho Hằng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Bà H và ông Q không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011146 ngày 27 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ