vanban.org

Bản án 98/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều T đối với ông Huỳnh Hữu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều T được ly hôn với ông Huỳnh Hữu H. Về con chung: Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H có 02 con chung là cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tiên - Hưng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều T đối với ông Huỳnh Hữu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TR
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 8 - 2022
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TR, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quang Hoạch.

Ông Vũ Xuân Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 787/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2022 và thông báo dời phiên tòa số: 05/TB-TA ngày 19 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kiều T, sinh năm 1994.

Trú tại: Ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Hữu H, sinh năm 1989.

Trú tại: Ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ bà Võ Thị Kiều T trình bày:

Bà và ông Huỳnh Hữu H tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20 tháng 5 năm 2013.

Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau và đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà xin được ly hôn với ông Huỳnh Hữu H.

- Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung là cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019. Ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Tạm thời bà không yêu cầu ông Huỳnh Hữu H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 bị hạn chế về nhận thức nên bà đề nghị Tòa án không triệu tập cháu Huy đến tòa để ghi nhận ý kiến. Bà đang làm công nhân, thu nhập cả tăng ca khoảng 13.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Bị đơn ông Huỳnh Hữu H: Vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không nộp bản tự khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Kiều T.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.

Nguyên đơn: Chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn: Không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20 tháng 5 năm 2013. Hôn nhân của bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H là tự nguyện, hợp pháp.

Bà Võ Thị Kiều T trình bày vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2020 và vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Qua thời gian sống ly thân bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn, bà T xin được ly hôn với ông H.

Ông H tuy đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa án để làm việc, hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng không đến Tòa án hòa giải theo quy định, không có biện pháp để hàn gắn đoàn tụ giữa hai vợ chồng. Tòa án đã xác minh về mâu thuẫn gia đình được biết: Về mâu thuẫn vợ chồng thì địa phương không biết ông bà có mâu thuẫn như thế nào do không trình báo. Như vậy ông H coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ kiện, cũng cho thấy ông không quan tâm đến việc bà T xin ly hôn.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Xét theo nguyện vọng của bà T, ông H không có ý kiến nên giao cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo. Tạm thời ông H không cấp dưỡng nuôi con.

Vì quyền lợi của con chung, ông H có quyền thăm nom, chăm sóc mà không ai được cản trở, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn khai không yêu cầu Tòa án giải quyết và bị đơn ông Huỳnh Hữu H không có lời khai nên tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 71, 72, 81, 82, 83 và Điều 84 uật hôn nhân gia đình năm 2014.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều T, cho bà T được ly hôn với ông Huỳnh Hữu H.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019 cho bà Võ Thị Kiều T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Huỳnh Hữu H không cấp dưỡng nuôi con.

Do nguyên đơn khai không yêu cầu Tòa án giải quyết và bị đơn ông Huỳnh Hữu H không có lời khai nên tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.

Về án phí: Bà Võ Thị Kiều T chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Bà Võ Thị Kiều T khởi kiện ly hôn với ông Huỳnh Hữu H, có địa chỉ cư trú tại: Ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai. Theo biên bản xác minh của Công an xã Bắc Sơn, huyện Tr cung cấp thông tin: Hiện nay ông Huỳnh Hữu H có đăng ký tạm trú và đang sinh sống tại địa chỉ: Ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Tr có thẩm quyền giải quyết.

Về thủ tục tố tụng:

Ngày 05/8/2022 bà Võ Thị Kiều T có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt bà Võ Thị Kiều T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Huỳnh Hữu H để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông Huỳnh Hữu H vẫn vắng mặt không đến Tòa án nhân dân huyện Tr để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Huỳnh Hữu H.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H kết hôn vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và được Ủy ban nhân dân xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20 tháng 5 năm 2013 đúng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà Võ Thị Kiều T trình bày sau khi kết hôn bà và ông Huỳnh Hữu H chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian. Sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cãi nhau và vợ chồng đã sống ly thân. Bà Võ Thị Kiều T xin ly hôn ông Huỳnh Hữu H.

Ông Huỳnh Hữu H tuy đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa án để làm việc, hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng ông Huỳnh Hữu H không đến Tòa án làm việc, hòa giải theo quy định, không có biện pháp để hàn gắn đoàn tụ giữa hai vợ chồng. Như vậy ông H coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ kiện, cũng cho thấy ông không quan tâm đến việc bà T xin ly hôn và có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung.

Tại biên bản xác minh ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tr: Đại diện Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai cung cấp: Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được vì bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H không báo địa phương biết. Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Xét mâu thuẫn giữa bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H đã xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cho bà Võ Thị Kiều T được ly hôn với ông Huỳnh Hữu H.

Về con chung: Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H có 02 con chung cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Huỳnh Hoàng H và cháu Huỳnh Bảo Khang H. Tạm thời, bà T không yêu cầu ông Huỳnh Hữu H cấp dưỡng nuôi con chung.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình quy định “Vôï, choàng thoûa thuaän veà ngöôøi tröïc tieáp nuoâi con, nghóa vuï, quyeàn cuûa moãi beân sau khi ly hoân ñoái vôùi con; tröôøng hôïp khoâng thoûa thuaän ñöôïc thì Toøa aùn quyeát ñònh giao con cho moät beân tröïc tieáp nuoâi caên cöù vaøo quyeàn lôïi veà moïi maët cuûa con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Bà Võ Thị Kiều T đã cung cấp giấy xác nhận khuyết tật đối với cháu Huỳnh Hoàng H hiện đang bị khuyết tật tâm thần nhẹ nên bà đề nghị Tòa án không hỏi ý kiến của cháu Huy nên Tòa án không tiến hành hỏi ý kiến, nguyện vọng của cháu Huy. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điền kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Vì vậy, giao con chung cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019 cho bà Võ Thị Kiều T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Huỳnh Hữu H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Huỳnh Hữu H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và bị đơn ông Huỳnh Hữu H không có lời khai nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.

Về án phí: Bà Võ Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

TUYÊN XỬ:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kiều T đối với ông Huỳnh Hữu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều T được ly hôn với ông Huỳnh Hữu H.

- Về con chung: Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H có 02 con chung là cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019.

Giao con chung cháu Huỳnh Hoàng H, sinh ngày 26/02/2013 và cháu Huỳnh Bảo Khang H, sinh ngày 25/12/2019 cho bà Võ Thị Kiều T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Huỳnh Hữu H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Huỳnh Hữu H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Kiều T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do ông Huỳnh Hữu H không có lời khai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Võ Thị Kiều T khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do ông Huỳnh Hữu H không có lời khai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Võ Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm bà Võ Thị Kiều T nộp theo biên lai thu số 0000325 ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tr, tỉnh Đồng Nai được tính trừ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà Võ Thị Kiều T đã nộp đủ án phí.

Bà Võ Thị Kiều T và ông Huỳnh Hữu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ