vanban.org

Bản án 98/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn với Ông Phan Thành T.

Về con chung: Giao cho Bà Th được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, đến đủ 18 tuổi (theo như nguyện vọng của cháu Tr), Ông T được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này, không ai được ngăn cản. Còn cháu Phan Thanh S, sinh ngày 06/10/1997 đã trưởng thành,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn với Ông Phan Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 9 – 2022
V/v Ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sơn

Bà Tăng Thị Bạch Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Luyến-Thẩm Tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Bùi Mỹ Tiên-Kiểm Sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2022/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2022, về việc Ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 211/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 01/01/1980;

- Bị đơn: Ông Phan Thành T, sinh ngày 01/01/1978;

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện ngày 22/7/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thu Th trình bày:

Bà và Ông Phan Thành T quen biết nhau và có tình cảm, được gia đình tổ chức lễ cưới năm 1997, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 133, ngày 21/7/2008.

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà có 02 người con chung là Phan Thanh S, sinh ngày 06/10/1997 và Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, hiện đang sống chung với cha mẹ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống hai bên bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên cãi vã, Ông T thường ra tay đánh đập, chửi bà với lời lẽ thô tục, nặng nề. Dù đã được gia đình khuyên nhủ và địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng Ông T vẫn không sửa đổi tính tình, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà và Ông T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với Ông Phan Thành T;

- Về con chung: Đối với cháu Phan Thanh S, sinh ngày 06/10/1997 đã đủ 18 tuổi, phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Đối với cháu Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và yêu cầu Ông T cấp dưỡng nuôi con theo phán quyết của Tòa án.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

*Bị đơn Ông Phan Thành T không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thu Th.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự khÔng Tả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn Ông Phan Thành T, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Th và Ông Phan Thành T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 21/7/2008, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.

Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng Bà Th, Ông T bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên cãi vã, Ông T có lời lẽ, thô tục, nặng nề chưởi Bà Th. Mặc dù đã được gia đình khuyên nhủ và địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng Ông T vẫn không sửa đổi tính tình, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, nên đã sống ly thân từ năm 2018, đến thời điểm này, cả Bà Th và Ông T cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Th đối với Ông T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, Bà Th và Ông T có hai người con chung là Phan Thanh S, sinh ngày 06/10/1997, đã trưởng thành, phát triển bình thường về mặt tinh thần và thể chất, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn cháu Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, Bà Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và yêu cầu Ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, các khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

Xét thấy, cháu Trọng có nguyện vọng sống với mẹ, người con chung này từ nhỏ đã được người mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, tránh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ. Nếu sau này người mẹ nuôi dưỡng không tốt thì người cha có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà Th, giao cháu Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, cho Bà Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này cho Ông T, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà Th, buộc Ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phan Thanh Tr, theo định kỳ hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 26/9/2022 cho đến khi cháu Trọng tròn 18 tuổi. Quyết định về nội dung này có hiệu lực thi hành ngay, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bà Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, buộc Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Đề nghị của Kiểm sát viên, về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, là có căn cứ, theo như nhận định và phân tích nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83, 84, 110 và 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn với Ông Phan Thành T.

2) Về con chung: Giao cho Bà Th được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, đến đủ 18 tuổi (theo như nguyện vọng của cháu Tr), Ông T được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này, không ai được ngăn cản. Còn cháu Phan Thanh S, sinh ngày 06/10/1997 đã trưởng thành, phát triển bình thường về mặt tinh thần và thể chất, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3) Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc Ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phan Thanh Tr, sinh ngày 20/5/2007, theo định kỳ hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm (26/9/2022), cho đến khi cháu Trọng tròn 18 tuổi. Quyết định về nội dung này có hiệu lực thi hành ngay.

4) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5) Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng; Buộc Bà Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003992, ngày 29/7/2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, Bà Th đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6) Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

7) Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ