vanban.org

Bản án 98/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Anh K.

Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của chị Nguyễn Thị Huỳnh N đối với anh Nguyễn Anh K. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp là 96… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Anh K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:98/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2022
V/v tranh chấp về ly hôn của nam,
nữ sống chung với nhau N vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn
và chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Khon.

2. Ông Nguyễn Hoàng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01, 29 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau N vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm: 2003 (có mặt);

Nơi cư trú: Số 153B, ấp T, xã An P, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh K, sinh năm: 1991 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp Th, xã An P, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/7/2022, các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày: Chị N và anh K tự nguyện tìm hiểu và được sự đồng ý của gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2021, Nng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống đến tháng 01/2022 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẩn về tiền bạc, thường hay cự cải nên đã ly thân từ tháng 01/2022 đến nay. Từ khi ly thân anh chị và gia đình hai bên không có gặp mặt để hàn gắn tình cảm. Con chung không có, tài sản chung 10 chỉ vàng 24kra và nợ chung không có.

Nay chị N yêu cầu ly hôn với anh K, con chung không có, tài sản chung chị N và anh K đã thỏa thuận phân chia xong và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Anh K trình bày: Thống nhất lời trình bày của chị N về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung và không có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng là do chị N nói anh K quản lý tiền bạc khó khăn, không tôn trọng gia đình bên vợ, anh K có đưa chị N về nhà cha mẹ vợ chơi vài ngày, Nng sau đó chị N không chịu về chung sống với anh K nên đã ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Nay anh K thống nhất ly hôn với chị N, con chung không có, tài sản chung có 10 chỉ vàng 24kra, đã tự thỏa thuận xong và nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị N trình bày: Chị N yêu cầu ly hôn với anh K, con chung không có, tài sản chung đã tự thỏa thuận, xin rút lại yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung, nợ chung không có.

Tại phiên tòa kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự. Về hôn nhân không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Anh K. Về con chung không có, tài sản chung đình chỉ do chị N rút đơn yêu cầu và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1.] Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh K, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp Thị, xã An P, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị N và anh K chung sống N vợ chồng từ năm 2021, không có đăng ký kết hôn, nay chị N yêu cầu ly hôn với anh K, nên phát sinh tranh chấp về ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau N vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3.] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh K vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.] Về nội dung:

[2.1.] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh K là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, chung sống với nhau từ năm 2021 Nng không có đăng ký kết hôn theo luật định, nên đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Trong thời gian chung sống chị N và anh K phát sinh mâu thuẩn trầm trọng do bất đồng ý kiến, quan điểm sống không phù hợp, do thời gian sống chung mới hơn 01 năm và cả hai anh chị đều không muốn hàn gắn đoàn tụ và cương quyết ly hôn. Chị N và anh K chung sống với nhau N vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh K là phù hợp với Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2.] Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3.] Về tài sản chung: Tại phiên tòa chị N tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung, do chị N và anh K đã tự thỏa thuận xong, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị N theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.4.] Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5.] Về án phí:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, hoàn trả cho chị N số tiền 668.000đ (Sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Bị đơn anh Nguyễn Anh K không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 7 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Anh K.

2. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của chị Nguyễn Thị Huỳnh N đối với anh Nguyễn Anh K.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp là 968.000đ (Chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010145 ngày 09/5/2022 và biên lai số 0010318 ngày 04/7/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, hoàn trả cho chị Huỳnh N số tiền 668.000đ (Sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29/7/2022). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ