vanban.org

Bản án 98/2022/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N đối với ông Nguyễn Văn Q.

Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn N số tiền nợ là 19.752.000 đồng (Bằng chữ: Mười chín triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng), không phải trả tiền lãi. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Bản án dân sự tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N đối với ông Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/DSST
Ngày 15 tháng 8 năm 2022
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Trần Minh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dư Thị Út

2. Bà Khưu Liên Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng mua bán.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41A/2022/QĐXXST - DS ngày 16 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1981

Địa chỉ: Số 108, Đồng K, khóm H, phường M, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q

Địa chỉ: Số 28, Nguyễn H, khóm M, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

( Ông N và ông Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn ông Huỳnh Văn Ntrình bày:

Ông Huỳnh Văn N làm nghề giết mổ và mua bán phân phối thịt dê cho các quán ăn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu. Vào khoảng giữa năm 2019, ông N có thỏa thuận mua bán thịt dê tươi sống cho quán dê tươi Đức Đạt tọa lạc tại Quốc lộ 1A, ấp Xẻo Chích, thị trấn Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu do ông Nguyễn Văn Q làm chủ, ông N thỏa thuận mua bán trực tiếp với ông Q và chỉ thỏa thuận miệng, không có lập thành văn bản. Trung bình mỗi tuần, ông N giao cho quán của ông Q khoảng 20kg thịt dê. Hình thức thanh toán thì có khi ông Q trả tiền mặt trực tiếp, có khi thì thiếu lại một ít. Việc chốt số tiền nợ chủ yếu là qua tin nhắn điện thoại giữa ông N và ông Q, không có làm biên nhận. Trong suốt thời gian giao dịch thì ông Q liên hệ với ông N qua số điện thoại 0941.112.999 và chốt số tiền nợ cũng thông qua số điện thoại này. Tính đến lần chốt tiền nợ cuối cùng vào khoảng đầu tháng 4/2021 thì ông Q còn nợ ông N số tiền 19.752.000 đồng. Ông N đã nhiều lần gọi điện và nhắn tin yêu cầu thanh toán số tiền trên, ông Q cũng đã hứa hẹn nhiều lần nhưng vẫn không thanh toán. Nay ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q thanh toán số tiền mua thịt dê còn nợ là 19.752.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập làm việc nhưng ông Q vẫn không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng thời ông Q cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án; ông Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, ông Q không có lời khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N đối với ông Nguyễn Văn Q. Buộc ông Q có nghĩa vụ thanh toán cho ông N số tiền mua thịt dê còn nợ là 19.752.000 đồng. Ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Ông Huỳnh Văn N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Q thanh toán tiền mua hàng còn nợ. Ông Q có nơi cư trú tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Xác định quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn xác định có thỏa thuận mua bán thịt dê với bị đơn và yêu cầu bị đơn thanh toán tiền mua hàng còn nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N và ông Q theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu thanh toán tiền hàng còn nợ của ông Huỳnh Văn N:

Ông N xác định thỏa thuận mua bán thịt dê với ông Q từ giữa năm 2019, chỉ thỏa thuận miệng, không có lập thành văn bản. Hình thức thanh toán là trả tiền mặt hoặc có khi nợ lại một ít. Hai bên chốt nợ qua số điện thoại 0941.112.999 của ông Q, số tiền nợ ở lần chốt nợ cuối cùng là 19.752.000 đồng. Ông N yêu cầu ông Q thanh toán số tiền này. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, ông N có giao nộp cho Tòa án 10 (mười) bản chụp trắng đen thể hiện nội dung tin nhắn với số 0941.112.999 (tên thuê bao là Quán Anh Q Đức Đ...), nội dung chốt số tiền nợ 19.752.000 đồng tại bút lục số 06. Ông N xác định đây là nội dung các tin nhắn mà ông N nhắn tin qua lại trực tiếp với ông Q trong quá trình mua bán. Đồng thời ông N có giao nộp 01 (một) USB và 01 (một) bản giải trình nội dung tập tin ghi âm lưu trong USB thể hiện nội dung đòi tiền nợ giữa ông N và ông Q.

Tại văn bản số 1759/TTKD BLU-ĐHNV ngày 20/12/2021 của Trung tâm kinh doanh VNPT-Bạc Liêu phúc đáp nội dung yêu cầu cung cấp thông tin chủ thuê bao cho Tòa án thể hiện:

- Trong thời gian từ ngày 01/02/2021 đến ngày 30/5/2021, chủ thuê bao di động số 0941112999 do Nguyễn Văn Q đứng tên.

- Hiện nay thuê bao trên vẫn đang hoạt động, Nguyễn Văn Q đứng tên.

Về phía ông Nguyễn Văn Q, sau khi được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cũng như tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được, ông Q không có ý kiến phản đối về các tài liệu chứng cứ này. Đồng thời ông Q cũng không giao nộp tài liệu chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử xác định các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập là hợp pháp và có giá trị chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định giữa ông N và ông Q có xảy ra việc mua bán và chốt số nợ 19.752.000 đồng trên thực tế như ông N đã trình bày và từ thời điểm chốt nợ đến nay, ông Q không thanh toán số nợ trên cho ông N. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, buộc ông Q có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ 19.752.000 đồng.

Về án phí.

Theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Do yêu cầu của ông Huỳnh Văn N được chấp nhận toàn bộ, nên ông N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông N đã nộp 987.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0006865 ngày 24 tháng 5 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

Ông Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 987.600 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự;

- Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N đối với ông Nguyễn Văn Q.

2. Buộc ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn N số tiền nợ là 19.752.000 đồng (Bằng chữ: Mười chín triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng), không phải trả tiền lãi.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

Ông Huỳnh Văn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông N đã nộp 987.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0006865 ngày 24 tháng 5 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

Ông Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 987.600 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bạc Liêu;

- VKSND TP. Bạc Liêu;

- Chi cục THADS TP. Bạc Liêu;

- Các đương sự;

- Lưu.

Trần Minh Tân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ