- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "H-D1"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2022/DS-ST Ngày 30/6/2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Cúc
Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 131/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2022/QĐXXST-DS ngày 27/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2022/QĐST-DS ngày 14/6/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh S.
Bị đơn: Chị Phan Thị D, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Tháng 01/2020, chị Phan Thị D nhiều lần mượn tiền của bà H tổng cộng là 50.000.000 đồng để làm vốn buôn bán, khi mượn tiền không có làm biên nhận, đến ngày 21/5/2020 (nhằm ngày 29/4al/2020), bà H yêu cầu chị D trả số tiền 50.000.000 đồng nhưng chị D chỉ trả 10.000.000 đồng, lúc này chị D có làm biên nhận xác nhận còn nợ bà H 40.000.000 đồng đến nay chưa trả. Do đó, bà H yêu cầu chị D trả số tiền nêu trên, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn chị Phan Thị D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp và thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị D vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến bằng văn bản về việc bà H khởi kiện chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà H yêu cầu chị D trả số tiền nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không có ý kiến bằng văn bản về việc bà H khởi kiện chị nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vào tháng 01/2020, bà H có cho chị D vay tiền nhiều lần tổng cộng là 50.000.000 đồng để làm vốn buôn bán, khi mượn tiền không có làm biên nhận nợ, đến ngày 21/5/2020 (nhằm ngày 29/4al/2020), chị D trả cho bà H số tiền 10.000.000 đồng nên chị D có làm giấy xác nhận còn nợ bà H số tiền 40.000.000 đồng. Anh L xác định bà H đã nhiều lần yêu cầu nhưng chị D vẫn không trả nợ. Do đó, bà H yêu cầu chị D trả số tiền 40.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, tại biên nhận ngày 29/4/2020 thể hiện chị D có nợ bà H số tiền 40.000.000 đồng, Anh L khẳng định biên nhận nợ do chị D viết và ký tên, hai bên không thỏa thuận lãi suất, bà H đã nhiều lần yêu cầu nhưng chị D không trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Mặc khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng chị D không có mặt cũng không có ý kiến bằng văn bản về việc bà H khởi kiện chị nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, việc bà H yêu cầu chị D trả số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Chị Phan Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 463, 466 và điều 357 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
Buộc chị Phan Thị D có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Phan Thị D chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi tính theo mức lãi suất do pháp luật quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
2. Án phí: Chị Phan Thị D phải chịu 2.000.000đ (Hai triệu đồng) án phí sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001868 ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhTiền Giang; - VKSND Cai Lậy; - CCTHADS Cai lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Phượng |