vanban.org

Bản án 98/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” đối với anh Phan Văn N.

1. Buộc anh Phan Văn N có nghĩa vụ bồi thường cho ông N số tiền 4.470.000 (bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn) đồng. 2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N đối với anh D về việc yêu cầu bồi thường tổn thất kinh tế số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn N yêu cầu bồi thường thiệt hại Phan Văn D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” đối với anh Phan Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2022/DS-ST
Ngày: 30-9-2022
V/v tranh chấp bồi thường
thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hùng;

Ông Mai Quốc Vũ.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: Ông Lý Trọng Đại– Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2021/TLST- DS ngày 06 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hai do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2022/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973; cư trú tại: khu phố GH, phường TB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Phan Văn D, sinh năm 1988; hộ khẩu thường cư trú tại: ấp TT, xã TH, huyện TC, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: khu phố AB, phường AT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968;

2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975;

3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975;

Cùng cư trú tại: Khu phố GH, phường TB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12-11-2021. và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn, ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ngày 24-8-2021 anh D có ghé sang tiệm sửa xe nhà ông để vá xe, ông có kiểm tra xe, thấy căm xe bị hỏng nên ông có hỏi anh D có cần siết căm không nhưng anh D không siết căm và dẫn xe ra về, trước đó anh D có ghé tiệm siết căm xe hay không thì ông không nhớ.

Cùng ngày anh D chụp ảnh nhà ông và 02 nhà liền kề đăng lên mạng xã hội Facebook trong nhóm dân Trảng Bàng, nội dung “kêu gọi mọi người hãy cảnh giác khi qua đoạn đường này có sửa xe máy cần lưu ý nha…” với những lời lẽ xúc phạm danh dự ông làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình ông, trong đó có cháu ông đang trong độ tuổi đi học, hàng xóm kỳ thị, ảnh hưởng đến việc sửa xe của gia đình ông, từ khi anh D đăng bài không ai ghé sửa xe tại tiệm ông.

Do đó, ông khởi kiện yêu cầu anh Phan Văn D xin lỗi công khai, tháo bài đăng trên mạng xã hội xuống, bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần là 10 triệu đồng, bồi thường tổn thất kinh tế là 45 triệu đồng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phan Văn D trình bày: Anh có đăng bài viết trên facebook kèm hình ảnh, anh không có vu khống cũng như không có lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức, cá nhân nào, bài đăng của anh là hoàn toàn đúng sự thật. Do đó, anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà là vợ của ông N. Hàng ngày, bà cùng ông N sửa xe cho khách. Bà biết vào ngày 24-8-2021, có một người thanh niên ghé tiệm sửa xe của vợ chồng bà để vá xe. Sau khi hỏi giá thì bỏ đi không có sửa xe. Ngay ngày hôm đó thì người thanh niên này đăng bài lên Facebook nói xấu về tiệm sửa xe của vợ chồng bà. Nay bà có cùng ý kiến và yêu cầu với ông N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày: Ngày 24-8-2021, anh D lợi dụng quyền tự do tự tiện đăng hình ảnh nhà bà lên mạng xã hội Facebook khi chưa có sự đồng ý của gia đình bà, dẫn dắt cộng đồng mạng, trong đó có nick bình luận đòi đem 500 quân đến đập nhà bà, điều này làm ảnh hưởng đến việc buôn bán của gia đình bà, làm hàng xóm xem thường bà, làm giảm nguồn thu nhập của bà từ ngày 24-8-2021 đến ngày 21-6-2022. Nay bà khởi kiện yêu cầu anh D bồi thường cho bà số tiền mua công cụ để bảo vệ gồm camare 1,8 triệu đồng, cây chĩa 500 nghìn đồng và 2,7 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần, yêu cầu anh D gở bỏ bài đăng, đăng bài xin lỗi và không đăng bài về gia đình bà lên mạng xã hội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà là em của ông N, bà L. Ngày 24-8-2021 anh D lợi dụng quyền tự do tự tiện đăng hình ảnh nhà bà lên mạng xã hội Facebook khi chưa có sự đồng ý của gia đình bà, dẫn dắt cộng đồng mạng, điều này làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh (làm cửa sắt) của gia đình bà, gia đình xáo trộn, hàng xóm xem thường, làm giảm nguồn thu nhập của gia đình, ảnh hưởng đến tinh thần của gia đình bà. Nay bà khởi kiện yêu cầu anh D bồi thường cho bà số tiền 05 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần và kinh doanh giảm sút.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 584, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với anh Phan Văn N. Buộc anh D gỡ bỏ bài đăng trên mạng xã hội, bồi thường thiệt hại về tinh thần cho ông Nguyễn Văn N theo quy định pháp luật. Không chấp nhận yêu cầu của ông N về việc buộc anh D bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị giảm sút là 45.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị C về việc buộc anh D bồi thường thiệt hại về tinh thần và giảm sút thu nhập số tiền 5.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L về việc buộc anh D phải gỡ bỏ bài đăng, đăng bài xin lỗi và không đăng bài về gia đình bà L lên mạng xã hội, bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 2.700.000 đồng; cây chĩa là 500.000 đồng và tiền lắp đặt camera là 1.800.000 đồng.

Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Ông Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu anh Phan Văn N xin lỗi công khai, tháo bài đăng trên mạng xã hội xuống, bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần là 10 triệu đồng, bồi thường tổn thất kinh tế là 45 triệu đồng. Vì cho rằng anh D có bài đăng trên mạng Facebook nhằm xúc phạm ông. Về phía bị đơn thừa nhận có đăng bài lên mạng nhằm nói về tiệm sửa xe “N” là tường thuật lại sự thật mà anh trãi qua.

Về hành vi của anh Phan Văn N thấy rằng: Anh D thừa nhận có đăng bài viết trên Facebook trang Dân Trảng Bàng kể lại sự việc xảy ra giữa anh D và ông N tại tiệm sửa xe của ông N ngày 24-8-2021. Nội dung bài viết có đoạn “Mình biết là ông chú này soạn lại bài cũ để kiếm tiền... Mọi người ai đi qua đoạn này có sửa xe máy cần lưu ý nha" kèm theo bài viết là địa chỉ và hình ảnh tiệm sửa xe của ông N. Anh D không có chứng cứ chứng minh việc ông N yêu cầu siết lại căm xe là cố ý lừa gạt anh D để lấy tiền nhưng đã đăng bài viết lên mạng xã hội với nội dung mang tính chủ quan của cá nhân, có tính chất vu khống ông N là lừa gạt mình để kiếm tiền và yêu cầu mọi người phải cảnh giác. Bên dưới bài viết để lại nhiều bình luận có tính chất khiếm nhã, công kích tiệm sửa xe của ông N. Trường hợp này là không phù hợp. Nếu tiệm sửa xe của ông N có hành vi gian dối trong quá trình hành nghề thì anh D phải trình báo chính quyền địa phương để điều tra làm rõ sự việc. Do đó, hành vi của anh D là trái pháp luật, đã xâm phạm đến danh dự, uy tin của ông N.

Tại khoản 1,2 Điều 584 Bộ luật dân sự quy định: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì: “1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Do đó, yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần là có căn cứ theo quy định tại Điều 592 của Bộ luật dân sự; nhưng mức yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là không phù hợp; Hội đồng xét xử chấp nhận 03 tháng lương cơ sở số tiền là 4.470.000 đồng.

Đối với yêu cầu xin lỗi công khai của ông N: bài viết của anh D không có lời lẽ xúc phạm đến ông N. Mặt khác, ông N thừa nhận hiện nay tiệm sửa xe của ông đã hoạt động lại bình thường. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của ông N về việc yêu cầu anh D xin lỗi công khai trên mạng xã hội.

Đối với bồi thường tổn thất do thu nhập bị giảm sút là 45 triệu đồng: Ông N không cung cấp được chứng cứ chứng minh thu nhập thực tế của ông N trước và sau khi anh D đăng bài viết trên nên không có căn cứ xác định có thiệt hại xảy ra trên thực tế. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N bồi thường tổn thất do thu nhập bị giảm sút là 45 triệu đồng.

Về việc ông N yêu cầu anh D gỡ bài viết trên mạng xã hội Facebook. Tại phiên tòa, anh D đồng ý gỡ bài viết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà L, bà C thấy rằng: Bài viết của anh D đăng trên mạng xã hội Facebook hướng đến chủ thể là ông N, không có liên quan đến bà L và bà C. Tại phiên tòa, bà L và bà C cũng thừa nhận gia đình bà không có kinh doanh tiệm sửa xe. Bà C, bà L cho rằng bài viết có hình ảnh liên quan đến nhà của bà L, bà C. Trong đó, bà C cho rằng làm ảnh hưởng tinh thần bà và làm giảm sút thu nhập. Bà yêu cầu anh D phải bồi thường tổn thất do thu nhập bị giảm sút là 4.000.000 đồng và tổn thất tinh thần là 1.000.000 đồng. Bà L yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần là 2.700.000 đồng và thanh toán tiền lắp đặt camera, mua chĩa là 2.300.000 đồng. Căn cứ vào Điều 592 của Bộ luật dân sự; Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà L, bà C đối với anh D.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Ông N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận là: 45.000.000 đồng x 5% = 2.250.000 đồng.

Bà L phải chịu tiền án phí đối với yêu cầu anh D thanh toán tiền lắp đặt camera, mua chĩa là 2.300.000 đồng không được Hội đồng xét xử chấp nhận là 300.000 đồng.

Bà C phải chịu án phí dân sự đối với yêu cầu anh D bồi thường tổn thất thu thu nhập bị giảm sút 4.000.000 đồng không được Hội đồng xét xử chấp nhận là 300.000 đồng

Anh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 34, 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 12, 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” đối với anh Phan Văn N.

1.1. Buộc anh Phan Văn N có nghĩa vụ bồi thường cho ông N số tiền 4.470.000 (bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn) đồng.

1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N đối với anh D về việc yêu cầu bồi thường tổn thất kinh tế số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” đối với anh Phan Văn N về việc yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 2.700.000 đồng và thanh toán lại số tiền 2.300.000 đồng.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị C “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” đối với anh Phan Văn N về việc yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần và thu nhập bị giảm sút số tiền 5.000.000 đồng.

4. Không chấp nhận yêu cầu buộc anh Phan Văn N xin lỗi công khai trên mạng xã hội facebook do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C.

5. Anh D có nghĩa vụ gỡ bài viết trên mạng Facebook vào ngày 24-8-2021.

6. Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.250.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.125.000 đồng theo biên lai số 0026338 ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng; ông N phải nộp tiếp số tiền án phí là 1.125.000 đồng.

+ Anh Phan Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0026705 ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng; bà L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm

+ Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

7. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

8. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ