vanban.org

Bản án 98/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Duy T: 8 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/12/2020 đến ngày 29/12/2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ Luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2021/HS-ST
Ngày 27/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Huynh.

2. Bà Lê Thị Ánh Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thànhxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021, theoQuyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T, sinh năm 1987 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trìnhđộ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ôngNguyễn Đức T, sinh năm 1962 và bà Lăng Thị C, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 05/6/2006 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng biện phápđưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng (Quyết định số 5619/QĐ-UBND).

Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/12/2020 đến ngày 29/12/2020 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Đến ngày 29/01/2021 bị áp dụngbiện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt.

Bị hại: Chị Trần Thụy Thu D, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tronghồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 06 giờ ngày 01/12/2020, Nguyễn Duy T điều khiển xe mô tô biển số 60C2-016.47 đến Trung tâm y tế huyện L uống methanol. Đến 08 giờ 18 phút cùng ngày, T đi về thì gặp M (không rõ nhân thân lai lịch), M rủ T đi ăn sáng, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở M đi đến quán bánh xèo T thuộc khu P, thị trấn L. Lúc này T và M nhìn thấy01 xe mô tô hiệu PiaggioVespa biển số 60C1-896.34của chị Trần Thụy Thu D đang dựng trong quán, không khóa cổ, không có chìa khóa trên xe, và khôngcó ngườitrongcoi nên cả hai nảy sinh ý định trộm cắp xe trên. M đi ra đường cảnh giới để T dắt xe ra khỏi quán. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 60C2-016.47 đẩy M điều khiển xe vừa trộm cắp được về nhà T ở ấp H, xã V, huyện N để cất giấu, M bỏ đi đâu không rõ. Ngày 05/12/2020, T lên mạng facebook thuê một người (không rõ nhân thân lai lịch) làm lại 02 chìa khóa xe vespa với giá 1.600.000 đồng, sau đó T mở cốp xe thấy có 01 giấy đăng ký xe T lấy ra vứt dưới gầm giường đồng thời tháo biển số 60C1-896.34 vứt bỏ và lắp biển số 60Z1-1279 mà T nhặt được trên đườngđể sử dụng đi lại. Đến ngày 26/12/2020, T đến Công an huyện Long Thành đầu thú, khainhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 06/KL-ĐGTS ngày 07 tháng 01 năm 2021 kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu sơn: trắng, dung tích 124, số khung: 2511HV015173, số máy: M82EM5023192 (bị mất biển kiểm soát), sử dụng từ tháng 7 năm 2017 tại thời điểm ngày 01/12/2020 trị giá 25.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa và 01 giấy đăng ký xe, 01 xe mô tô biển số 60C2-016.47, 01 biển số 60Z1-1279.

Tại cáo trạng số 83/CT-VKSLT ngày 01 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồngxét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về vật chứng: Tiếp tục tạm giữ 01 biển số 60Z1-1279.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hànhvi phạm tội. Bị cáothống nhất về tội danh, các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự và mức hình phạt màđại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụngđối với bị cáo. Bị cáo khôngcó ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng củabị cáo: Xin giảm nhẹhình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranhtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấynhư sau:

Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củacác Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy T có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hànhvi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai củabị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tàiliệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/12/2020, tại khu P, thị trấn L, huyện L, Nguyễn Duy T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, biển số 60C1-896.34, số khung: 2511HV015173, số máy: M82EM5023192 của chị Trần Thụy Thu D mang về nhà tại ấp H, xã V, huyện N cất giấu. Kết luận giám định xác định chiếc xe trên trị giá 25.000.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truytố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật; Năm 2006 bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục về với thời gian 24 tháng, bị cáo đã chấp hành xong đến nay vì tham lam muốn biến tài sản của người khác thành tài sản của mình nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi phạm tội củabị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăngnặng: không.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộctrường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã nhận lại tài sản nên có đơn và có mặt tại phiên tòađể xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Do đó cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt:Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hìnhphạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- Xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa và 01 giấy đăng ký xe là tài sản thuộc sở hữu của bị hại chị Trần Thụy Thu D; Xe mô tô biển số 60C2-016.47 là của ông Nguyễn Đức T cho T mượn, ông T không biết T sử dụng trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D và ông T là đúng quy định;

- Đối với biển số 60Z1-1279, theoxác M của Cơ quan điều tra thì biển số xe này là của chiếc xe mô tô loại NOUVO, nhãn hiệu YAMAHA thuộc sở hữu của Công ty TNHH Đ (đường 29/4/, khu phố 5, thị trấn B, huyện B, tỉnh Đồng Nai). Hiện Cơ quan điều tra chưalàm việc được với chủ sở hữu nên tiếptục tạm giữ biển số xe này để làm rõ, xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thụy Thu D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên M đồng phạm với T trộm cắp tài sản, hiện chưaxác M được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theoquy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợpvới nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt: Nguyễn Duy T: 8 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/12/2020 đến ngày 29/12/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tiếp tục tạm giữ 01 biển số 60Z1-1279.

(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theoQuyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSLT ngày 12/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2021 tại Chi cục thi hànhán dân sự huyện Long Thành).

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phívà lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy T, bị hại chị Trần Thụy Thu Dvà người có quyền lợi, nghĩavụ liên quan ông Nguyễn Đức T có quyền khángcáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ