- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2020/HS -ST Ngày: 26/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và ông Nguyễn Văn Lĩnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 99/2020/TLST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 130/2020/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Bá L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 4 năm 1991; Nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1966; Con bà Phạm Thị H, sinh năm 1971; Vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1995; Con: có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2020 đến ngày 23/10/2020 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1991, vắng mặt.
Địa chỉ: Khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Người được anh Nguyễn Duy L ủy quyền: Anh Phan Văn H, năm sinh: 1987, có mặt.
Địa chỉ: Khối A, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Chị Hồ Thị Ng, sinh năm 1992, vắng mặt.
Địa chỉ: Khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Người được chị Hồ Thị Ng ủy quyền: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1995, có mặt.
Địa chỉ: Khối Th, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1966, có mặt.
Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Chị Hồ Thị Ng, sinh năm 1988, vắng mặt.
Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 17/8/2020, Nguyễn Bá L điều khiển xe mô tô đến nhà mẹ vợ là bà Nguyễn Thị K để phụ giúp làm đậu phụ. Khi L đến nhà thì chỉ thấy có vợ L là chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1995 đang làm đậu phụ và con trai của L (03 tuổi) đang ngủ trong nhà. Đến khoảng 09 giờ, chị D mang đậu phụ ra chợ cho bà K bán. Lúc này, Nguyễn Bá L vào nhà xem con như thế nào thì phát hiện phòng của anh Nguyễn Duy L (sinh năm 1991, anh vợ của Nguyễn Bá L) mở cửa. Nguyễn Bá L liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L đi vào phòng anh L, mở ngăn kéo bàn gỗ trang điểm thấy một chùm có nhiều chìa khóa. L lấy chùm chìa khóa đó tìm chìa khóa mở ngăn kéo trên cùng, phía bên phải của tủ nhựa thì thấy một con lợn tiết kiệm bằng sứ, phía dưới đặt các loại giấy tờ, L cầm giấy tờ lên thì thấy có 02 cọc tiền (trong đó, 01 cọc tiền nhiều mệnh giá cột bằng dây chun và 01 cọc tiền để trong túi ni lông) và 01 hộp nhựa tròn màu đỏ (loại đựng vòng lắc cổ các cửa hàng vàng bạc thường dùng). L lấy 01 cọc tiền nhiều mệnh giá cột bằng dây chun bỏ vào túi quần, sau đó mở hộp tròn ra, bên trong có một hộp nhựa tròn màu đỏ loại nhỏ (loại đựng vòng lắc tay), trong hộp nhỏ có nhiều nhẫn, vòng lắc, bông tai màu vàng. L tiếp tục lấy hộp nhựa tròn nhỏ bỏ vào túi quần, sau đó khóa tủ lại, cất chùm chìa khóa như ban đầu rồi đến xe mô tô cất tiền và vàng vừa lấy vào cốp xe, sau đó quay lại làm việc bình thường. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Bá L điều khiển xe về nhà rồi kiểm tra tài sản lấy được gồm số tiền 8.500.000 đồng và 10 chỉ vàng (01 dây chuyền 02 chỉ, 01 vòng lắc tay 02 chỉ, 01 đôi bông tai 01 chỉ, 05 chiếc nhẫn tròn 05 chỉ). Ngày 19/8/2020, Nguyễn Bá L đến cửa hàng vàng bạc T(thuộc bán 01 dây chuyền vàng 02 chỉ và 01 vòng lắc tay vàng 02 chỉ được 20.900.000 đồng, sau đó Nguyễn Bá L mua lại 01 dây chuyền loại vàng “tây” giá 5.600.000 đồng, số tiền còn lại L tiêu xài cá nhân hết. Sau đó ít ngày (Nguyễn Bá L không nhớ ngày, tháng cụ thể), Nguyễn Bá L mang 01 nhẫn tròn vàng loại 01 chỉ đến của hàng vàng bạc H bán được số tiền 5.200.000 đồng. Tiếp sau đó, Nguyễn Bá L tiếp tục mang 01 đôi bông tai vàng 01 chỉ xuống bán tại một của hàng vàng bạc L không nhớ tên, ở phường Q, thị xã H được 5.000.000 đồng. Sau đó ít ngày, Nguyễn Bá L tiếp tục mang 02 nhẫn tròn vàng 02 chỉ đến cửa hàng T bán được 10.400.000 đồng. Một nhẫn tròn vàng loại 01 chỉ Nguyễn Bá L đánh rơi mất. Còn lại 01 nhẫn tròn vàng lọai 01 chỉ và 01 dây chuyền mua lại ngày 19/8/2020 tại của hàng vàng bạc T, Nguyễn Bá L cất giấu trong nhà mình. Số tiền 8.500.000 đồng và số tiền bán vàng, Nguyễn Bá L tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 31/8/2020, anh Nguyễn Duy L phát hiện bị mất tiền và vàng nên đã trình báo công an phường Q, thị xã H. Ngày 01/9/2020, Nguyễn Bá L bị bắt trong trường hợp khẩn cấp. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Nguyễn Bá L phát hiện và thu giữ 01 dây chuyền vàng “tây” cất giấu trong cán chổi nhựa (loại chổi quét nước) ở trong phòng tắm; 01 nhẫn vàng loại tròn bên trong có ghi “T” và “1c” ở phía trên cửa kéo phòng đầu tiên từ cửa vào nhà.
Ngày 08/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã yêu cầu định giá đối với 10 chỉ vàng SJC (24K) tại thời điểm bị chiếm đoạt. Bản kết luận định giá tài sản số 15 ngày 08/9/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thị xã H đã kết luận: 10 chỉ vàng SJC (24K) có giá trị mua vào ngày 17/8/2020 là 54.418.000 đồng (Năm mươi tư triệu bốn trăm mười tám nghìn đồng). Nguyễn Bá L đã lén lút chiếm đoạt số tiền 8.500.000 đồng và 10 chỉ vàng SJC (24 K). Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Bá L chiếm đoạt là 62.918.000 đồng (sáu mươi hai triệu chín trăm mười tám nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKS-HM, ngày 09 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Bá L 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bá L.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Bá L đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, trả lại cho anh Nguyễn Duy L và chị Hồ Thị Ng số tiền 57.500.000 đồng, anh L, chị Ng không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá T và chị Hồ Thị Ng không yêu cầu gì nên miễn xét.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc nhẫn vàng SJC (24K), số lượng 01 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai đã trả lại cho anh Nguyễn Duy L là đúng pháp luật.
- 01 (một) dây chuyền vàng 18K, số lượng 1,6 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại cho Nguyễn Bá L là đúng pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy phù hợp về thời gian, địa điểm mà bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt; có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ ngày 17/8/2020, tại nhà bà Nguyễn Thị K (thuộc khối B, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Bá L đã lén lút chiếm đoạt số tiền 8.500.000 đồng và 10 chỉ vàng SJC (24 K) của anh Nguyễn Duy L và chị Hồ Thị Ng. Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Bá L chiếm đoạt của anh Nguyễn Duy L và chị Hồ Thị Ng là 62.918.000 đồng (Sáu mươi hai triệu chín trăm mười tám nghìn đồng).
Quá trình phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật nhưng do không muốn lao động chân chính, coi thường pháp luật nên đã thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Bá L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội gây hoang mang, lo lắng trong cuộc sống bình thường của nhân dân. Bởi vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội về tội trộm cắp tài sản và giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện.
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có công cứu giúp người bị đuối nước; có bố đẻ là người có công với cách mạng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chấp hành tốt pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai cũng đủ niềm tin giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc nhẫn vàng SJC (24K), số lượng 01 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai đã trả lại cho anh Nguyễn Duy L là đúng pháp luật nên miễn xét.
- 01 (một) dây chuyền vàng 18K, số lượng 1,6 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại cho Nguyễn Bá L là đúng pháp luật nên miễn xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Bá L đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, trả lại cho anh Nguyễn Duy L và chị Hồ Thị Ng số tiền 57.500.000 đồng, anh L, chị Ng không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá T và chị Hồ Thị Ng không yêu cầu gì nên miễn xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Bá L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Bá L cho UBND phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Nguyễn Bá L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người được bị hại ủy quyền, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; Người liên quan; - VKSND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Sở Tư pháp; - CA thị xã H; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Duy Tuấn |