vanban.org

Bản án 98/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí K phạm tội "Trộm cắp tài sản" và bị cáo Châu Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2019. Xử phạt: Bị cáo Châu Nhựt T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Khôn, Châu Nhựt Tân - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí K phạm tội "Trộm cắp tài sản" và bị cáo Châu Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2020/HS-ST
Ngày 29-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông HàTrọng Tâm

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều - Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Em - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Chí K - sinh ngày 10/9/1999; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp A, xã B, thành phố C, tỉnh Cà Mau; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B (Nguyễn Chí T1), sinh năm 1978; con bà: Lê Thị O (Không rõ năm sinh cũng như còn sống hay mất).

Tiền sự: Tại Quyết định số 120/2018/QĐ-TA ngày 15/5/2018 của TAND thành phố Cà Mau, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Chí K thời hạn là 15 tháng, chấp hành xong ngày 06/10/2019.

Nhân thân: Tại bản án số 01/2017/HSST ngày 06/01/2017 của TAND thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí K 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/11/2017. Chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự và án phí.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2019, đến ngày 25/12/2019 chuyển tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

2/ Họ và tên: Châu Nhựt T - sinh năm 1991; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số A, đường B, Khóm 7, phường 7, thành phố C, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 7/12; con ông: Châu Văn K, sinh năm 1954; con bà: Hồ Phương H, sinh năm 1970; vợ: Nguyễn Lam L - sinh năm 1996.

Nhân thân:

Tại Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với Châu Nhựt T thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 30/9/2013.

Tại Quyết định số 11/2020/QĐ-TA ngày 15/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu Nhựt T thời hạn là 18 tháng. Bị cáo đang chấp hành Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau từ ngày 19/12/2019 đến nay.

Bị hại: Anh Trương Nhựt K1 - sinh năm 1988

(vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 3, phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thạch Đ - sinh năm 2000.

Địa chỉ: Khóm 7, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau

(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 19/12/2019, Nguyễn Chí K đang uống nước ở Công viên Hồng Bàng thuộc phường 7, thành phố C thì To (bạn bè quen biết không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) đến rủ K đi tìm tài sản chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài thì K đồng ý.

To điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở K đi để tìm tài sản. Khi đến khóm 3, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thì K phát hiện thấy 01 xe Wave màu đỏ đen, biển số 69B1-414.33 của anh Trương Nhật K1 đang đậu ở vỉa hè không người trông coi. K kêu To dừng lại rồi đi vào lén lút dẫn xe ra lộ. K ngồi trên xe vừa chiếm đoạt được và kêu To điều khiển xe không rõ biễn số, đồng thời đẩy xe vừa chiếm đoạt về phường 9, thành phố Cà Mau. Khi cả hai đi đến khu vực phường 4, thành phố Cà Mau thì dừng lại, K phá mặt nạ xe vừa trộm được, rồi bứt dây điện nổ máy xe. K gỡ biển số số 69B1-414.33 ném vào đám cỏ bên đường. K điều khiển xe chạy về phòng trọ ở khóm 6, phường 9, thành phố Cà Mau. To chạy xe chậm chậm theo K, sau đó To đi về nhà To.

Về đến phòng trọ, K tháo 02 bửng xe màu đen có dán chữ Honda của xe vừa chiếm đoạt ra và gắn vào biển số 52X-6207.

Khoảng 11 giờ cùng ngày 19/12/2019, Nguyễn Chí K điện thoại cho Châu Nhựt T kêu T bán xe giùm. K nói bán giá 3.000.000 đồng và hứa sau khi bán được sẽ trả cho T 600.000 đồng. T biết xe do K phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, K điều khiển xe của bị hại K1 đến cây xăng trên đường Phan Ngọc Hiển nói dài, phường 9, thành phố C gặp T và bạn của T tên Trần Văn Nh (Tý). K, T và Nh vào quán cà phê Chốn Xưa thuộc khóm 1, phường 9 ngồi uống nước. Một lúc sau có Trần Văn Th (Bằng) là bạn của T đến xem xe. Sau đó K đi về, còn T và Nh điều khiển xe của bị hại đi về phòng trọ của T để chiều người mua xe đến lấy. Trên đường về thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và mời làm việc.

Tang vật như sau:

- 01 xe mô tô hiệu Wave 110, biển số 52X2-6207 (biển số giả) có số khung là RLHHC09025Y060562 và số máy là HC09E-5100623;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung S7 màu đen;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu vàng hồng của Châu Nhựt T.

Ngoài ra, ngày 19/12/2019 kiểm tra tại phòng trọ của Nguyễn Chí K thuộc khóm 6, phường 9, thành phố Cà Mau, thu giữ:

- 01 biển kiểm soát số xe 69H1-173.60;

- 2 bửng xe màu đen có dán chữ Honda;

- 01 máy mài có chữ Toust Max;

- 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen, mặt trước bị nứt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 172/KL-HĐĐG ngày 20/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cà Mau kết luận: Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2019: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave ZX màu đỏ đen, biển số 69B1-414.33 đã qua sử dụng, giá trị còn lại 90%: 18.500.000 đồng x 90% = 16.650.000 đồng.

Ngày 14/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã tiến hành trả lại xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave ZX màu đỏ đen, biển số 69B1-414.33 cho bị hại Trương Nhật K1. Hiện anh K1 không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại Cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 07/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Châu Nhựt T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hai bị cáo K và T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 323 điểm i, s, h khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Châu Nhựt T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Tang vật:

Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu vàng hồng.

Tịch thu tiêu hủy: Biển số xe 52X2- 6207 (tra cứu không có dữ liệu); Biển số xe 69H1-173.60; 01 máy mài có chữ Toust Max.

Trả lại cho bị hại 02 bửng xe màu đen có dán chữ Honda.

Trả lại cho bị cáo K 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen.

Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Samsung S7 màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 19/12/2019, tại khóm 3, phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau, Nguyễn Chí K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trương Nhật K1 01 xe Wave màu đỏ đen, biển số 69B1-414.33 đang đậu ở vỉa hè không người trông coi. Sau đó K điện thoại cho Châu Nhựt T kêu T tìm nơi tiêu thụ và hứa sẽ trả cho T 600.000 đồng mà K đã mượn trước đó. T biết rõ đây là tài sản do K phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, K điều khiển xe của bị hại K1 đến phường 9, thành phố Cà Mau đến gặp và giao xe cho T. Tại đây có Trần Văn Nh, Trần Văn Th (Bằng) đến xem xe. Sau khi xem xe, Th đồng ý mua. T và Nh điều khiển xe về phòng trọ của T để chiều người mua đến lấy. Trên đường về thì bị Lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Chí K chiếm đoạt của bị hại Trương Nhật K1 là 16.650.000 đồng.

Tại phiên tòa hai bị cáo Nguyễn Chí K và Châu Nhựt T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, với kết quả định giá tài sản, cùng các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Chí K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Châu Nhựt T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ nhận thức, biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật xử lý, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo bất chấp hậu quả để phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Đối với bị cáo T, mặc dù biết xe do K chiếm đoạt mà có, nhưng khi nghe K kêu tìm nơi tiêu thụ và hứa sẽ trả cho bị cáo 600.000 đồng thì bị cáo đồng ý ngay, bị cáo đã tìm người tiêu thụ xe. Khi bị cáo điều khiển xe về phòng trọ của bị cáo thì bị bắt quả tang. Bản thân bị cáo T có tiền sự, có nhân thân xấu, do đó cũng cần áp dụng mức án tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội hai bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; riêng bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm án cho các bị cáo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Dân sự: Bị hại anh Trương Nhật K1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tang vật:

Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave ZX màu đỏ đen, biển số 69B1-414.33. Ngày 14/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã tiến hành trả lại cho bị hại Trương Nhật K1, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

02 bửng xe màu đen có dán chữ Honda (của xe 69B1- 414.33) của bị hại, nên cần trả lại cho bị hại.

Đối với Biển số xe 52X2- 6207 (tra cứu không có dữ liệu); Biển số xe 69H1-173.60; 01 máy mài có chữ Toust Max, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen, mặt trước bị nứt của bị cáo K, không liên quan việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo K.

01 điện thoại di động hiệu Samsung S7 màu đen, không liên quan việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.

01 điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu vàng hồng, là vật bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ.

Đối với hành vi của Trần Văn Nh, Trần Văn Th do không biết xe do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với đối tượng tên To theo lời khai của Nguyễn Chí K là người rủ rê và tham gia chiếm đoạt tài sản của bị hại cùng với bị cáo, do không biết họ tên địa chỉ cụ thể nên yêu cấu Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã có hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đúng quy định.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Chí K.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Châu Nhựt T.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí K phạm tội "Trộm cắp tài sản" và bị cáo Châu Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2019.

Xử phạt: Bị cáo Châu Nhựt T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Tang vật:

Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu vàng hồng.

Tịch thu tiêu hủy: Biển số xe 52X2- 6207 (tra cứu không có dữ liệu); Biển số xe 69H1-173.60; 01 máy mài có chữ Toust Max.

Trả lại cho bị hại Trương Nhựt K1 02 (hai) bửng xe màu đen có dán chữ Honda.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Chí K 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia màu đen.

Trả lại cho bị cáo Châu Nhựt T 01 điện thoại di động hiệu Samsung S7 màu đen.

Vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau.

Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ