- Tranh chấp gì? án hình sự — "173.Tội trộm cắp tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đỗ Xuân B phạm tội «Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2020/HS - ST Ngày: 29/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Bùi Xuân Đãng
2. Ông Nguyễn Đức Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, TP Hà Nội. Đại diện VKSND huyện T - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2020/HS- ST ngày 09/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2020/QĐXXST - HS ngày 09/6/2020 đối với bị cáo:
ĐỖ XUÂN B, sinh năm 1976; HKTT: Thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Xuân H và bà Lê Thị H; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2008); Tiền án: Ngày 01/11/2011 Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án); Tiền sự: Không (danh chỉ bản số 241 Công an T lập ngày 10/4/2020); Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ từ ngày 09/4/2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội - có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Lã Văn T - Sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 4, xã V, huyện T, Hà Nội.
(vắng mặt tại phiên tòa)
NÁ IV NNID IỘN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 25/01/2019, Trương Văn Đ và Đỗ Xuân B đi qua xưởng cơ khí gần V thuộc xã V, huyện T, Hà Nội thì phát hiện thấy các tấm rào sắt hàn lưới B40 của anh Lã Văn T để ở vệ đường nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và bàn nhau đến tối sẽ quay lại để lấy tài sản. Đến 22 giờ cùng ngày, Tạ Giang N đến nhà Đ ở thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội để sáng hôm sau cùng đi làm sơn với Đ thì Đ rủ N đi trộm cắp tài sản. Khoảng 1 giờ ngày 26/01/2019, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel, không gắn biển kiểm soát kéo theo 01 chiếc xe cải tiến chở B và N đi đến khu tập thể V để lấy các tấm rào sắt nhưng thấy các tấm rào sắt này đã bị hàn lại nên Đ, B và N quay lại nhà Đ để lấy xà beng. Trên đường về nhà Đ, cả nhóm Đ phát hiện tại khu đất trống gần V có 02 khung cửa nhôm kính không có người trông giữ nên đã lấy 2 khung nhôm này để lên xe kéo của Đ và chở đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị T ở Thôn L, xã N để bán nhưng cửa hàng đóng cửa nên Đ, B, N để 2 khung cửa trước cửa hàng của chị T rồi phủ bạt lên. Đ, B, N về nhà Đ lấy xà beng rồi quay trở lại xưởng cơ khí. Đ dùng xà beng cậy mối hàn giữa các tấm rào sắt rồi cả 3 cùng bê các tấm rào sắt lên xe kéo chở về cửa hàng thu mua sắt vụn. Sau đó Đ, B và N cùng đi về nhà Đ.
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 26/01/2019, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel của Đ chở theo Đỗ Xuân B còn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 19G1 – 215.23 quay lại cửa hàng thu mua sắt vụn của chị T để bán số tài sản trộm cắp được thì bị anh Lã Văn T phát hiện. Đ chở B bỏ chạy còn anh T bắt giữ được N và trình báo cơ quan công an. Cơ quan công an đã thu giữ của Tạ Giang N 23 bộ rào chắn bằng khung sắt V5 bên trong có lưới B40 và 02 thanh lập B5, khung sắt kích thước 2m90 x 1m60; 01 xe mô tô BKS 19G1 – 215.23, 02 khung cửa nhôm kính; thu giữ của Trương Văn Đ: 01 xe kéo 2 bánh, 01 xe máy nhãn hiệu Angel không kiểm soát, 01 xà beng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 30/KLĐG ngày 22/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 23 tấm rào sắt trị giá 24.759.000đồng; bản kết luận định giá tài sản số 130/KLĐG ngày 10/5/2019 của Hội đồng định gái tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận 02 khung cửa nhôm kính có giá trị 210.000đồng.
Quá trình điều tra vụ án, Trương văn Đ và Tạ Giang N khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
- Anh Lã Văn T đã được nhận lại 23 tấm rào sắt bị trộm cắp và không yêu cầu gì về dân sự.
- Đối với 02 khung nhôm kính quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến 02 chiếc khung nhôm này để điều tra xử lý sau.
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 19G1 – 215.23 là tài sản của anh Đặng Văn Vị, anh Vị cho N mượn nhưng không biết N sử dụng để trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc xe kéo 2 bánh, 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel không biển kiểm soát, 01 xà beng qua điều tra xác định được là tài sản của Đ sử dụng làm công cụ phương tiện để trộm cắp tài sản nên tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị T không biết 23 tấm lưới sắt là tài sản do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xử lý.
- Đối với Đỗ Xuân B sau khi khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, B đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Do chưa bắt được B nên ngày 23/7/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Đỗ Xuân B.
Ngày 10/9/2019, Tòa án nhân dân huyện T đã xét xử vụ án trộm cắp tài sản và tuyên phạt Trương Văn Đ 14 tháng tù giam, Tạ Giang N 10 tháng tù giam; Trả lại anh Đặng Văn Vị chiếc xe HondaWave BKS 19G1 – 215.23; Tịch thu phát mại sung công chiếc xe kéo 2 bánh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel không biển kiểm soát; Tịch thu tiêu hủy 01 xà beng.
Ngày 09/4/2020, Đỗ Xuân B bị bắt theo quyết định truy nã nên Cơ quan điều tra – Công an huyện T đã phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với Đỗ Xuân B về tội Trộm cắp tài sản.
Tại cơ quan điều tra: Đỗ Xuân B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 98/CT - VKSTT ngày 09/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Đỗ Xuân B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố là đúng. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự:
+ xử phạt bị cáo Đỗ Xuân B từ 12 -18 tháng tù;
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
+ Phần dân sự; xử lý vật chứng đã được giải quyết tại bản án xét xử bị cáo Trương Văn Đ, Tạ Giang N nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác được thu thập trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/01/2019, tại tập thể V, xã V, huyện T, Hà Nội, Đỗ Xuân B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lã Văn T 23 bộ rào chắn bằng khung sắt V5 bên trong có lưới B40 có tổng giá trị 24.759.000đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự trị an xã hội cần phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án năm 2011 (đã xóa).
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ». Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về dân sự: Anh Lã Văn T đã nhận lại tài sản bị bị cáo chiếm đoạt. Anh T không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: Các vật chứng trong vụ án gồm: Chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 19G1 – 215.23 do Tạ Giang N sử dụng khi đi trộm cắp tài sản; chiếc xe cải tiến 2 bánh, 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel không biển kiểm soát, 01 xà beng là tài sản của Đ sử dụng làm công cụ phương tiện để trộm cắp tài sản đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm ngày 10/9/2019 xét xử bị cáo Trương Văn Đ và Tạ Giang N nên không xem xét trong vụ án này.
. Về các vấn đề khác của vụ án:
- Đối với 02 khung nhôm kính quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến 02 chiếc khung nhôm này để điều tra xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị Nguyễn Thị T không biết 23 tấm lưới sắt là tài sản do trộm cắp mà có, cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Đỗ Xuân B phạm tội «Trộm cắp tài sản».
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 09/4/2020.
3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại (anh Lã Văn T) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân H. T, TP Hà Nội; - Công an huyện T, TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự H.T, Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự H. T, Hà Nội; - Bị cáo. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hoài |