vanban.org

Bản án 98/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Th, sửa bản án sơ thẩm; xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Van Thuc (CYGTT) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Th, sửa bản án sơ thẩm; xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2020/HS-PT
Ngày: 15 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hoài

- Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

Ông Đặng Ngọc Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 115/2020/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo Trần Văn Th do có kháng cáo của bị cáo Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2020/HS-ST ngày 06/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện DL.

Bị cáo kháng cáo: Trần Văn Th, sinh năm 1973 tại Ninh Bình; nơi ĐKNKTT và cư trú: Số nhà 111, Thôn 6, xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th1 và bà Phạm Thị M; vợ Phạm Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị hại không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 17 tháng 7 năm 2019, Trịnh Đình N và vợ là Nguyễn Thị V có xảy ra mâu thuẫn nên cãi nhau. Sau đó, Trịnh Đình N cầm một con dao chạy sang nhà ông Phạm Văn N1. Khi vào nhà Trịnh Đình N thấy ông Phạm Văn N1 đang nói chuyện với ông Nguyễn Văn S, Trịnh Đình N đi vào để dao dưới gầm bàn rồi lên nằm ở trên giường đặt trong phòng khách. Do Trần Văn Th có nghe Trịnh Đình N nhắc đến tên mình trong khi cãi nhau với vợ nên Th đi theo Trịnh Đình N vào nhà Phạm Văn N1 để hỏi rõ.

Tại phòng khách nhà ông Phạm Văn N1, Th và Trịnh Đình N xảy ra mâu thuẫn cãi nhau dẫn đến đánh nhau bằng tay, Phạm Văn N1 và ông S can ngăn nhưng Th vẫn tiếp tục đứng ở cửa ra vào phòng khách chửi Trịnh Đình N. Phạm Văn N1 cầm con dao dưới gầm bàn (con dao do Trịnh Đình N mang đến) chém một phát trúng vào đầu Trần Văn Th làm Th bị thương. Ông S can ngăn và đưa Th về nhà của Th, sau đó ông S đi về. Trần Văn Th vẫn còn bực tức việc bị Phạm Văn N1 đánh nên cầm một con dao phát cán bằng tre, phần lưỡi bằng kim loại, mũi cong dài 22cm đi đến nhà Phạm Văn N1. Lúc này, nhà Phạm Văn N1 đóng cửa, Th đập cửa và chửi to tiếng thì Phạm Văn N1 cầm một cây gậy chạy ra và bị Trần Văn Th dùng dao chém một nhát trúng tay nên lui vào trong nhà. Trịnh Đình N cũng cầm dao chạy ra thì bị Trần Văn Th chém một nhát trúng tay gây thương tích.

Hậu quả Phạm Văn N1 bị thương tích ở cổ tay trái, đứt gân duỗi ngón một tay trái, đứt gân gấp ngón cái tay trái, đứt dây thần kinh quay tay trái, điều trị tại Bệnh viện II Lâm Đồng từ ngày 17-7-2019 đến ngày 22-7-2019 thì xuất viện. Trịnh Đình N bị thương tích phần mềm ở cổ tay và bàn tay trái, điều trị tại Bệnh viện II Lâm Đồng từ ngày 17-7-2019 đến ngày 22-7-2019 thì xuất viện.

Đối với Trần Văn Th bị thương ở đầu, theo lời khai của Th thì Th điều trị tại Bệnh viện II Lâm Đồng từ ngày 17-7-2019 đến ngày 19-9-2019, sau đó tiếp tục điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy đến ngày 25-7-2019 thì xuất viện. Tuy nhiên, Trần Văn Th không xuất trình được các giấy tờ liên quan đến việc điều trị nói trên. Qua xác minh, Bệnh viện II Lâm Đồng và Bệnh viện Chợ Rẫy đã có công văn trả lời Trần Văn Th không điều trị tại hai bệnh viện nói trên nên chưa có căn cứ giám định thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 278/2019-TgT ngày 28 tháng 10 năm 2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Phạm Văn N1 là 21%, tổn thương do vật sắc gây nên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 6/2020-TgT ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trịnh Đình N là 8%, tổn thương do vật sắc gây nên.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 con dao rựa lưỡi bằng kim loại, mũi cong, phần lưỡi dài 22cm, cán bằng tre dài 20cm do Th giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn Th đã bồi thường cho Phạm Văn N1 số tiền 16.000.000 đồng, bồi thường cho Trịnh Đình N số tiền 18.000.000 đồng. Phạm Văn N1 và Trịnh Đình N đã làm đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 30/Ctr-VKS ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện DL đã truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án số 34/2020/HS-ST ngày 06/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện DL đã xử;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

* Ngày 13/7/2020 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: đề nghị áp dụng Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại; kết luận giám định thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 00 giờ ngày 17 tháng 7 năm 2019, giữa Trần Văn Th và Trịnh Đình N xảy ra mâu thuẫn cãi nhau dẫn đến đánh nhau bằng tay. Phạm Văn N1 và ông Nguyễn Văn S can ngăn nhưng Th vẫn tiếp tục đứng ở cửa ra vào phòng khách chửi Trịnh Đình N. Phạm Văn N1 cầm con dao dưới gầm bàn (con dao do Trịnh Đình N mang đến) chém một phát trúng vào đầu Trần Văn Th làm Th bị thương. Ông S can ngăn và đưa Th về nhà của Th, sau đó ông S đi về. Trần Văn Th vẫn còn bực tức việc bị Phạm Văn N1 đánh nên cầm một con dao phát cán bằng tre, phần lưỡi bằng kim loại, mũi cong dài 22cm đi đến nhà Phạm Văn N1 đập cửa và chửi to tiếng thì Phạm Văn N1 cầm một cây gậy chạy ra và bị Trần Văn Th dùng dao chém một nhát trúng tay nên lui vào trong nhà. Trịnh Đình N cũng cầm dao chạy ra thì bị Trần Văn Th chém một nhát trúng tay gây thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 6/2020-TgT ngày 23 tháng 4 năm 2020 và số 278/2019-TgT ngày 28 tháng 10 năm 2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ thương tích của Phạm Văn N1 là 21%, tỷ lệ thương tích của Trịnh Đình N là 8%. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định nên được xem xét.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận Th và điều khiển hành vi, biết rõ việc dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện gây tổn hại sức khỏe của bị hại. Với hành vi nêu trên của bị cáo cần có mức hình phạt cần thiết để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là quá nghiêm khắc. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Th, sửa bản án sơ thẩm; xử:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ