vanban.org

Bản án 98/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T.

Về án phí: Bà Giang Thị M phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000612 ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, bà Giang Thị M đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Giang Thị M xin ly hôn ông Hoàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2020/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 6 - 2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Nguyễn Văn Chương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2020/QĐXX-ST ngày 20 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Giang Thị M; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn T; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/01/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Giang Thị M (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng vào năm 1988, nhưng bà M đã làm thất lạc giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, lao động và nuôi dạy con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Ngoài ra, ông T mải chơi, không chăm lo kinh tế gia đình và nhiều lần có hành vi bạo lực với bà M. Do mâu thuẫn, bà M và ông T đã sống ly thân nhau khoảng 10 năm. Nay bà M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hoàng Văn T.

Về con chung: Bà Giang Thị M khai: Bà và ông Hoàng Văn T có 02 con chung là Hoàng Thị H, sinh năm 1991 và Hoàng Văn T, sinh năm 1994. Hiện các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Giang Thị M khai: Bà và ông Hoàng Văn T có tài sản chung nhưng hai bên tự thỏa thuận phân chia nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2020, ông Hoàng Văn T (là bị đơn) khai:

Về hôn nhân: Bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào năm 1988, nhưng do thời gian lâu ngày nên ông T đã làm mất giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, lao động và nuôi dạy con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn, bà M và ông T đã sống ly thân nhau khoảng 10 năm. Nay bà M xin ly hôn, quan điểm của ông T muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng nếu bà M vẫn cương quyết xin ly hôn thì ông T không có ý kiến gì.

Về con chung: Ông Hoàng Văn T khai: Ông và bà Giang Thị M có 02 con chung là Hoàng Thị Hoa, sinh năm 1991 và Hoàng Văn Thanh, sinh năm 1994. Hiện các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông T khai: Ông và bà Giang Thị M có tài sản chung nhưng hai bên tự thỏa thuận phân chia nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông T khai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng tài liệu xác minh thể hiện bà M, ông T không có tên trong sổ đăng ký kết hôn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T. Về con chung: Bà M và ông T thống nhất khai: Bà M và ông T có 02 con chung là Hoàng Thị H, sinh năm 1991 và Hoàng Văn T, sinh năm 1994. Hiện các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên bà M, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Bà M và ông T thống nhất khai: Bà M và ông T có tài sản chung nhưng hai bên tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Giang Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Hoàng Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T.

Về hôn nhân: Bà M và ông T khai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng tài liệu xác minh thể hiện bà M, ông T không có tên trong sổ đăng ký kết hôn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Nay bà M xin ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp, xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T.

Về con chung: Bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T có 02 con chung là Hoàng Thị H, sinh năm 1991 và Hoàng Văn T, sinh năm 1994. Hiện các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên bà M, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T thống nhất khai có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Giang Thị M phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Giang Thị M và ông Hoàng Văn T.

2. Về án phí: Bà Giang Thị M phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000612 ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, bà Giang Thị M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bà Giang Thị M, ông Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ