vanban.org

Bản án 98/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 06/10/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Quang Th được ly hôn chị Lê Thị Ph.

Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thủy V, sinh ngày 30/01/2013 cho anh Trần Quang Th được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lê Thị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Trần Quang T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "án Phắng Phương ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Quang Th được ly hôn chị Lê Thị Ph.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2020/HNGĐ-ST
Ngày 06/10/2020
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Sửu - Cán bộ hưu.

Bà Nguyễn Thị Bích - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 06/10/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 31/2020/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/9/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19/9/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trần Quang Th, sinh ngày 06/11/1989.

Địa chỉ thường trú: Số nhà 85, đường Nguyễn Thị L, phường NQ, thành phố BG, tỉnh BG.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt)

* Bị đơn: Chị Lê Thị Ph, sinh ngày : 28/7/1991.

Địa chỉ thường trú trước khi xuất cảnh : Số nhà 85, đường Nguyễn Thị L, phường NQ, thành phố BG, tỉnh BG.

Hiện đang lao động ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Trần Quang Th trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh kết hôn với chị Lê Thị Ph trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/03/2012 tại UBND phường NQ, thành phố BG, tỉnh BG. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2016 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01 năm 2016 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Ph.

- Về con chung: Anh và chị Ph có 1 con chung là Trần Thủy V, sinh ngày 30/01/2013 hiện nay cháu đang sống chung với anh Th. Khi ly hôn anh Th đề nghị được nuôi cháu Vân, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Lê Thị Ph hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Lê Thị Ph.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố đẻ chị Ph là ông ông Lê Văn Tr - Sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn KS, thị trấn V, huyện LG, tỉnh BG, ông Tr có quan điểm trình bày:

- Tôi là bố đẻ của chị Lê Thị Ph – sinh năm 1991 địa chỉ Số nhà 85, đường Nguyễn Thị L, phường NQ, thành phố BG, tỉnh BG. Hiện nay con tôi đang đi lao động tại Nhật Bản không có nhà nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình tôi.

- Về việc cung cấp địa chỉ của con tôi ở nước ngoài thì tôi không biết nên không thể cung cấp được. Về việc anh Th xin ly hôn chị Ph thì con tôi có trao đổi với gia đình là không ở được với anh Th. Việc riêng của hai cháu không liên quan gì đến gia đình tôi, tôi từ chối làm việc với Tòa án.

Tòa án yêu cầu gia đình tôi thông báo cho chị Ph gửi bản tự khai về cho Tòa án thì chúng tôi không thực hiện được vì tôi không biết địa chỉ của chị Ph, tôi không đồng ý thực hiện yêu cầu của Tòa án.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Trần Quang Th xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Chị Lê Thị Ph vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho anh Trần Quang Th được ly hôn chị Lê Thị Ph .Về con chung: Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là cháu Trần Thủy V, sinh ngày 30/01/2013 cho anh Trần Quang Th trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh Trần Quang Th không yêu cầu nên không xem xét. Tài sản chung, công nợ: các đương sự trình bày không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc anh Trần Quang Th phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

.Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trần Quang Th là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với chị Lê Thị Ph. Bị đơn chị Lê Thị Ph là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại Số nhà 85, đường Nguyễn Thị L, phường NQ, thành phố BG, tỉnh BG nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 918/QLXNC-P5 ngày 20/01/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì chị Lê Thị Ph đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 08/4/2017, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của chị Ph. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh Trần Quang Th vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Lê Thị Ph vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì đây được coi là trường hợp chị Lê Thị Ph cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Lê Thị Ph theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Trần Quang Th, chị Lê Thị Ph .

. Về quan hệ hôn nhân:

. Anh Trần Quang Th kết hôn với chị Lê Thị Ph trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/03/2012 tại UBND phường NQ, thành phố BG, tỉnh BG. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2016 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01 nă 2016 đến nay. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh Trần Quang Th đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Ph.

. Hội đồng xét xử thấy: Quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Quang Th và chị Lê Thị Ph là hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Hiện anh Trần Quang Th và chị Lê Thị Ph mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa, vợ chồng mâu thuẫn cắt đứt liên lạc. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng anh Trần Quang Th và chị Lê Thị Ph đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trần Quang Th và chị Lê Thị Ph đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh Trần Quang Th được ly hôn chị Lê Thị Ph.

. Về con chung:

. Anh Trần Quang Th và chị Lê Thị Ph có 01 con chung là Trần Thủy V, sinh ngày 30/01/2013 hiện nay cháu đang sống chung với anh Th. Sau khi ly hôn anh Trần Quang Th có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.

. HĐXX thấy: Nguyện vọng của con chung là muốn được ở với bố và tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án chị Ph không có mặt ở tại địa phương, không có địa chỉ cụ thể nên không trực tiếp nuôi dưỡng con chung được. Con chung chưa thành niên nên cần người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trần Quang Th có đủ điều kiện để nuôi con chung. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho anh Trần Quang Th được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trần Thủy V, sinh ngày 30/01/2013. Chị Lê Thị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Trần Quang Th không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trường hợp chị Lê Thị Ph về Việt Nam và có nguyện vọng nuôi con chung có thể làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): anh Thkhông đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Sau này có tranh chấp các bên có quyền đề nghị giải quyết bằng vụ án khác.

. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Trần Quang Th phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Quang Th được ly hôn chị Lê Thị Ph.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thủy V, sinh ngày 30/01/2013 cho anh Trần Quang Th được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Lê Thị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Trần Quang Th không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trường hợp chị Lê Thị Ph về Việt Nam và có nguyện vọng nuôi con chung có thể làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Anh Trần Quang Th phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000592 ngày 05/03/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Trần Quang Th đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Chị Lê Thị Ph hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Anh Trần Quang Th cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ