- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Trịnh Thị Th và anh Vũ Quang H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn- chị Trịnh Thị Th đối với bị đơn- anh Vũ Quang H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 04-11-2019. V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ba.
Ông Trần Trọng Pháp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hửu Quốc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trường- Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số 713/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 09 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Th; sinh năm: 1988; địa chỉ: Số 81, khu 2, ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đ. “Có mặt”
- Bị đơn: Anh Vũ Quang H; sinh năm: 1978; địa chỉ: Số 81, khu 2, ấp P, xã Long Phước, huyện L, tỉnh Đ. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 07 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn-chị Trịnh Thị Th trình bày:
Chị và anh Vũ Quang H chung sống với nhau vào năm 2016 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống với nhau thì không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến cãi vã. Nguyên nhân là do tính tình hai bên không hòa hợp, anh H thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm chăm sóc gia đình, khi gây gỗ thì có đánh vợ. Ngoài ra, anh H còn có quan hệ với người phụ nữ khác. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 06/2019 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị không hàn gắn, đoàn tụ gia đình. Nay xét thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Vũ Minh A, sinh ngày 26/05/2017.
Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh A và yêu cầu anh H cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Theo bản tự khai đề ngày 07 tháng 10 năm 2019, bị đơn-anh Vũ Quang H trình bày:
Anh và chị Trịnh Thị Th kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Phước, Long Thành, Đồng Nai. Trong quá trình chung sống thì không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi vã, không hòa thuận. Nay chị Th nộp đơn ly hôn tại Tòa án thì anh không đồng ý ly hôn vì anh còn yêu thương vợ con.
- Về con chung Anh chị có 01 con chung tên là Vũ Minh A, sinh ngày 26/05/2017.
Nếu Tòa án xử cho ly hôn, anh đồng ý giao cháu Minh A cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng và anh cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn-chị Trịnh Thị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn-anh Vũ Quang H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn-anh H.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Th và anh Vũ Quang H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (giấy chứng nhận kết hôn số 52/2016 ngày 15 tháng 04 năm 2016) nên quan hệ hôn nhân của chị Th và anh H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào chứng cứ thu thập được thể hiện tại hồ sơ thì trong quá trình chung sống, chị Trịnh Thị Th và anh Vũ Quang H có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là anh chị bất đồng về quan điểm, lối sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ tháng 06/2019 thì anh chị ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị không có bàn bạc, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Như vậy, giữa chị Trịnh Thị Th và anh Vũ Quang H đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị Th, xử cho chị Trịnh Thị Th được ly hôn với anh Vũ Quang H là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Vũ Minh A, sinh ngày 26/05/2017. Hiện nay, cháu Minh A đang chung sống với chị Th.
Chị Th yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Minh A thì anh H đồng ý. Hiện nay, cháu Minh A dưới 36 tháng tuổi và chị Th cũng có đủ điều kiện đảm bảo cho việc nuôi con. Vì vậy, có cơ sở giao cháu Minh A cho chị Th tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị Trịnh Thị Th yêu cầu anh Vũ Quang H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng thì anh H đồng ý.
- Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.
Về án phí: Do yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị Th được chấp nhận nên chị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn- chị Trịnh Thị Th đối với bị đơn- anh Vũ Quang H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị Th được ly hôn với anh Vũ Quang H.
- Về con chung: Giao cháu Vũ Minh A, sinh ngày 26/05/2017 cho chị Trịnh Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng và anh Vũ Quang H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm cấp dưỡng tương ứng với thời gian chậm cấp dưỡng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người đó. Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.
2. Về án phí: Chị Trịnh Thị Th phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002563 ngày 24/09/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. (chị Th đã nộp đủ án phí)
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nguyễn Văn Ba – Trần Trọng Pháp * Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Ngọc Nam |