vanban.org

Bản án 98/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị

Thành G đối với anh Dương Thanh H. Chị Ngô Thị Thành G được ly hôn với anh Dương Thanh H. Về con chung: Không có, nên không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2019/HNGĐ-ST
Ngày 22-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vân.

Bà Nguyễn Thị Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu

Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 550/2019/TLST-

HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 115/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019 giữa

các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thành G, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Cư trú tại: Tổ A, ấp Giồng T, xã Bình M, Thành Phố TN, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Dương Thanh H, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Cư trú tại: Tổ CA, ấp Bình P, xã Thái B, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/8/2019 lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên

đơn chị Ngô Thị Thành G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Thanh H chung sống với nhau

vào năm 2014, Có tổ chức lễ cưới và đến ngày 15/3/2014 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Thời gian mới kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cãi vả thường xuyên về vấn đề tiền bạc. Nguyên nhân là do anh H không đi làm mà ở nhà chơi, chị đi làm về có tiền thì anh H kêu chị đưa cho anh H giữ, nhưng anh H tiêu xài hết không lo cho gia đình. Anh H còn dùng những lời lẽ khó nghe để chửi chị và chửi cả mẹ chị. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 6/2019 cho đến nay, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng rất trầm trọng, tình cảm đã thực sự không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Dương Thanh H đến

để giải quyết vụ án nhưng anh H đều vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến của anh.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh

Tây Ninh trình bày:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân

sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận cho

chị G và anh H được ly hôn. Ghi nhận con chung, không có; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Dương Thanh H là bị đơn, đã được Tòa án

triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, chị Ngô Thị Thành G là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ

vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử

vắng mặt chị G, anh H.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh H chung sống với nhau năm

2014, Có tổ chức lễ cưới và đến ngày 15/3/2014 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban

nhân dân xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là quan hệ hôn

nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Xét thấy quá trình sống chung, chị G và

anh H bất đồng quan điểm, thường cãi vả thường xuyên. Nguyên nhân là do anh

H không đi làm mà ở nhà chơi, chị đi làm về có tiền thì anh H kêu chị đưa cho

anh H giữ, nhưng anh H tiêu xài hết không lo cho gia đình. Anh H dùng những

lời lẽ khó nghe để chửi chị và chửi cả mẹ chị. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân từ

tháng 6/2019 cho đến nay, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa

giải mâu thuẫn. Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa

án để làm việc nên không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị G.

. Quá trình thu thập chứng cứ có xác minh ý kiến của những người biết

việc, xác định mâu thuẫn vợ chồng như chị G trình bày là đúng. Anh H và chị G

ly thân từ tháng 6/2019 đến nay. Điều này vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa

vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống

chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những

phần tích trên xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị G là có căn cứ nên Hội đồng

xét xử chấp nhận yêu cầu của chị là phù hợp Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân

gia đình năm 2014.

. Về con chung: Vợ chồng chị G, anh H không có con chung nên không

đặt ra giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H

không có ý kiến nên không đặt ra giải quyết.

. Về nợ chung: Chị G trình bày không có, anh H không có ý kiến nên

Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Do chị Ngô Thị Thành G là nguyên đơn nên phải chịu án

phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Anh Dương Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị

Thành G đối với anh Dương Thanh H. Chị Ngô Thị Thành G được ly hôn với anh Dương Thanh H.

2. Về con chung: Không có, nên không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không

đặt ra giải quyết;

4. Về nợ chung: Không có, nên không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Ngô Thị Thành G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba

trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006205 ngày 16/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Ngô Thị Thành G đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây

Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ