- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2018/HSST Ngày 10 - 7 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Hữu Chiến.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn.
Bà Trần Thị Nga
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Cầm Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số 103/2018/TLST-HS ngày 20/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Giàng A C, tên gọi khác: không, sinh năm: 1995 tại M, Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Đảng phái đoàn thể: không; con ông: Giàng A S (đã chết) và bà: Hờ Thị D; có vợ là Sộng Thị Ch và 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2018 đến nay, có mặt.
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh Huấn - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Trần Huấn, Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng Hậu P, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 02/02/2018, tại khu vực bản T, xã H, huyện M, Tổ công tác Công an huyện M đã phát hiện và bắt quả tang Giàng A C, trú tại: xã H, huyện M đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng: 04 túi nilon chứa các viên nén màu hồng, xanh (C khai là hồng phiến) cùng 01 xe máy, 01 điện thoại di động.
Ngày 03/02/2018, Cơ quan điều tra Công an huyện M đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, trích mẫu giám định xác định 04 túi nilon chứa 813 viên có khối lượng 74,35 gam; kết quả giám định: 74,15 gam là loại chất Methamphetamine; 0,20 gam không xác định được là chất gì.
Quá trình điều tra, bị cáo Giàng A C khai nhận:
Khoảng 09 giờ ngày 31/01/2018, có một người đàn ông dân tộc Mông (không quen biết) đi xe máy đến nhà Giàng A C ở bản N, H, M và tự giới thiệu là bạn của bố C. Qua tra đổi, người đàn ông biết hoàn cảnh gia đình C khó khăn, vợ C đang bị bệnh nên người đàn ông cho C vay 1.500.000đ, C cầm tiền sau đó đưa vợ xuống huyện M khám bệnh. Đến khoảng 18 giờ ngày 01/02/2018, người đàn ông đến nhà C đặt vấn đề thuê C vận chuyển ma túy từ khu vực lán nương bản Huổi Pản xuống khu vực gốc cây đa bản T, xã H, huyện M, người đàn ông sẽ ở đó chờ lấy, xong việc sẽ trừ nợ số tiền 1.500.000đ, C đồng ý. Người đàn ông bảo C chờ ở lán nương bản Huổi Pản sẽ có người đến đưa mua túy cho C cầm về và hẹn chiều 02/02/2018 mang đến khu vực gốc đa bản T. Sau đó, người đàn ông đi đâu C không biết. Khoảng 06 giờ ngày 02/02/2018, C sang nhà anh trai là Giàng Hậu P ở cùng bản mượn xe máy để đi làm nương ở bản Huổi Pản. Khoảng 11 giờ cùng ngày, có một người đàn ông (không quen biết) đến đưa cho C 01 gói nilon bên trong có ma túy, C cầm gói ma túy cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, còn người đàn ông đi đâu C không biết. Khoảng 14 giờ, C mang số ma túy cất giấu trong túi quần điều khiển xe máy đến địa điểm giao ma túy. Khi đi đến khu vực gốc cây đa bản T, xã H, C dừng xe đợi người đàn ông đến lấy ma túy thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Đối với 02 viên màu xanh khối lượng 0,20 gam kết luận giám định không xác định được là chất gì. Do đó, Giàng A Cầu chỉ phải chịu trách nhiệm đối với 74,15 gam giám định là loại chất Methamphetamine.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án: Giàng A C khai là của người đàn ông (không quen biết) thuê vận chuyển, C không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.
Đối với Giàng Hậu P, trú tại bản N, H, M là anh trai của Giàng A C, đã cho C mượn xe máy. Việc C mượn xe máy đi vận chuyển ma túy anh P không biết, không tham gia nên Giàng Hậu P không liên quan đến vụ án.
Anh Giàng Hậu P có đơn đề nghị trả lại chiếc xe máy Honda WaveS có BKS 26K2-9493 thu giữ khi bắt bị cáo Giàng A C vì xe máy thuộc sở hữu của anh, việc C mượn xe rồi sử dụng để thực hiện hành vi vận chuyển ma túy anh P không biết.
Do có hành vi nêu trên, tại cáo trạng số 62/CT-VKS ngày18/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng A C về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Giàng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Giàng A C từ 16 đến 17 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe; trả cho anh Giàng Hậu P 01 chiếc xe máy; tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 chiếc điện thoại di động của bị cáo.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Giàng A C: nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Bị cáo sống ở vùng sâu vùng xa, trình độ nhận thức hiểu biết pháp luật hạn chế, phạm tội lần đầu do bị rủ rê, lôi kéo nên đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Bị cáo Giàng A C nhận thức, biết được chất ma túy bị Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; nhưng vì hám lợi C đã cố ý vận chuyển trái phép 74,15 gam loại chất Methamphetamine mục đích để được trừ nợ số tiền 1.500.000đ. Trong khi bị cáo đứng đợi để giao ma túy thì bị kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 02/02/2018 tại bản T, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La đối với Giàng A C cùng vật chứng đã thu giữ là 01 bọc linon màu đen chứa 04 túi nilon màu xanh, bên trong các túi nilon màu xanh đều chứa các viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh, thu tại vị trí túi quần bên phải của Giàng A C đang mặc.
Tại kết luận giám định số 307/KLMT ngày 09/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C1, C4, C7, C10, C2, C8, C11 đều là chất ma túy, loại chất Methamphetamine; mẫu gửi giám định ký hiệu C5 có khối lượng 0,20 gam không xác định được là chất gì; Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 74,15 gam, loại chất Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
- Lời khai của anh Giàng A Vạ, sinh năm 1990, trú tại: Bản T, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La có mặt chứng kiến việc cơ quan điều tra khám xét, lập biên bản bắt quả tang đối với bị cáo Giàng A C.
Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Giàng A C đã phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Giàng A C có hành vi vận chuyển trái phép 74,15gam loại chất Methamphetamine để được nhận tiền công, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “…Methamphetamine… có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tai, tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần có mức hình phạt thỏa đáng, nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, song xét thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- 69,87 gam loại chất Methamphetamine (còn lại sau khi giám định) thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 giấy phép lái xe thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ màu đỏ thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Waves màu đen có BKS 26K2-9493 là xe bị cáo mượn của anh trai là Giàng Hậu P, việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, anh P không biết, nên cần trả lại cho anh Giàng Hậu P.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Giàng A C 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 69,87 gam loại chất Methamphetamine, 01 vỏ bọc nilon màu đen, 04 vỏ túi nilon màu xanh được niêm phong trong một chiếc phong bì màu trắng.
- Trả cho bị cáo Giàng A C: 01 giấy phép lái xe mang tên Giàng A C có số 140140008020 do Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La cấp ngày 11/8/2014.
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 chiếc điện thoại di động được niêm phong trong 01 chiếc phong bì do bưu điện phát hành (Theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ghi: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đỏ số IMEI 357012067579049, thu giữ của Giàng A C).
- Trả lại cho anh Giàng Hậu P: 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda loại xe Waves màu sơn đen có BKS 26K2-9493, xe có số máy HC12E0273183, số khung RLHHC12048Y629657, xe đã cũ (thu của Giàng A C).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Giàng A C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Phòng PC47-Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Bị cáo; LS; NLQ; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Quản Hữu Chiến |