vanban.org

Bản án 98/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 8 năm 2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 98/2018/HS-ST

Ngày: 21/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Thịnh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân. Ông Nguyễn Thành Thái. - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Liên - KiÓm s¸t viªn. Ngày 21/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2018/HSST ngày 16/10/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Phạm Quốc T Sinh ngày 02 tháng 6 năm 1963, tại tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc K và bà Kim Thị N (đều đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1964. Con có 02 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án: 01 (Tại Bản án số 83/2010/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2010 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên phạt Phạm Quốc T 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 08 tháng 01 năm 2016 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 19/GCN ngày 08/01/2016 của Trại giam Hồng Ca - Tổng cục VIII); Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt tù về các tội “Cưỡng đoạt tài sản” vào năm 1997 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” năm 2004, tuy nhiên các lần phạm tội này đều đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 8 năm 2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. Có

mặt. Người chứng kiến: Anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ 19B, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8 năm 2018, Phạm Quốc T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 24B1-575.20 của chị Nguyễn Thị Thanh H từ nhà đến khu vực đường quốc lộ 4E gần đường B3 thuộc phường N, thành phố Lào Cai mua của một người phụ nữ có tên là Vân A (không rõ địa chỉ) 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng với mục đích sử dụng và chia nhỏ để bán kiếm lời. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, Phạm Quốc T điều khiển xe mô tô trên đi sang khu vực đường Phan Đình Giót thuộc tổ 28A, phường P, thành phố L thì dừng lại xe ở ven đường với mục đích tìm người để bán ma túy. Đến 17 giờ 15 phút cùng ngày thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực đó phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 (Một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 10 (Mười) gói giấy bạc màu vàng, mở kiểm tra bên trong mỗi gói đều chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng Phạm Quốc T khai nhận đó là Heroine của Phạm Quốc T mua về mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã dẫn giải Phạm Quốc T về trụ sở Công an thành phố Lào Cai để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của Phạm Quốc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 24B1-575.20 trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Việt T, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1993, Hộ khẩu thường trú: Tổ 19B, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai. Tại Kết luận giám định số 164/GĐMT ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 1,29 (Một phẩy hai mươi chín) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là chất ma túy Heroine (Hêrôin). Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, truy tố đối với Phạm Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’ theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T mức án từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,06 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng là Heroine được tái niêm phong trong phong bì thư và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 23 (Hai mươi ba) túi nilon màu trắng. Tạm giữ của bị cáo Phạm Quốc T 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án về án phí hình sự sơ thẩm. Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Người chứng kiến là anh anh Nguyễn Việt T vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại các bản khai có trong hồ sơ. Anh T khẳng định việc bắt, thu giữ tang vật của Phạm Quốc T là hoàn khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Lời khai của bị cáo Phạm Quốc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai người làm chứng, Kết luận giám định số 164/GĐMT, ngày 15 tháng 8 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có căn cứ xác định ngày 10 tháng 8 năm 2018, bị cáo Phạm Quốc T đã mua 01 gói Heroine có khối lượng là 1,29 gam để sử dụng cho bản thân và chia thành nhiều gói nhỏ để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Phạm Quốc T đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. [3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 83/2010/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2010 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên phạt Phạm

Quốc T 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 08 tháng 01 năm 2016, chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này của bị cáo Phạm Quốc T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự . [4]. Về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận định trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có anh trai là Phạm Hữu V được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương bảo vệ Tổ quốc, Huân chương chiến công năm năm 2005 và năm 2014. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5]. Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhận thức hiểu biết pháp luật Nhà nước cấm cá nhân, tổ chức tàng trữ, mua bán, sử dụng hoặc chiếm đoạt chất ma túy và nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời, bị cáo đã nhiều lần bị kết án về các tội phạm ma túy nhưng vẫn không sửa đổi. Điều đó cho thấy bị cáo không có ý thức tôn trọng pháp luật, tu dưỡng rèn luyện bản thân, nên cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. [6]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 1,29 gam chất bột khô màu trắng, vón cục, đã trích mẫu 0,23 gam chất bột khô màu trắng, vón cục giám định đã lưu mẫu giám định nên không đề cập xử lý. Số còn lại 1,06 gam được đựng trong trong 01 bì thư được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 23 túi nilon màu trắng, xét thấy đây là vật mà nhà nước cấm cấm lưu hành, số túi ni lon không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B1-575.20 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai xác định là tài sản riêng của chị Nguyễn Thị Thanh H không liên quan đến vụ án. Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh H là phù hợp nên không đề cập xử lý. [7]. Về nguồn gốc số ma túy: Phạm Quốc T khai nhận nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do bị cáo mua của một người có tên là Vân A. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không làm rõ được lai lịch, địa chỉ, hành vi của đối tượng này nên chưa có căn cứ để xử lý. [8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiền là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 8 năm 2018. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,06 gam Heroine đựng trong phong bì thư được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt của bì niêm phong mới này có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Phạm Quốc T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại tổ 28A, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” và 01 (Một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 23 (Hai mươi ba) túi nilon màu trắng. Tạm giữ của bị cáo Phạm Quốc T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng để đảm bảo cho việc thi hành án. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Quốc T phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận

Cỡ chữ