- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C, Lê Hữu Quí - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu Qu.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật hình sự phạt bổ sung; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2018/HS-PT Ngày: 24-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Trung Thành
Các hẩm h n:
Ông Tô Phú Đông
Ông Ngô Tấn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 65/2018/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Hữu Qu do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố C.
- B c có h ng c
1/ Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 tại Đồng Tháp; HKTT và chỗ ở: Tổ 40, khóm 3, phường 2, thành phố C, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; Con ông: Nguyễn Văn Gi và bà: Võ Thị Cẩm T; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 21-8-2017; Tạm giam: ngày 30-8-2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2/ Lê Hữu Qu, sinh năm 1998 tại Đồng Tháp; HKTT và chỗ ổ: Tổ 26, khóm M, phường 3, thành phố C, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Hữu S (chết) và bà: Nguyễn Thị Đ; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 21-8-2017; Tạm giam: ngày 30-8-2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án Viện kiểm sát không kháng ngh .
NỘI NG V N:
h c c ài iệ c r ng h
ụ n à di n i n i hi n a, n i d ng ụ n
c m ắ nh a
Nguyễn Văn C, sinh năm 1993, ngụ tổ 40, khóm 3, phường 2, thành phố C là bạn bè quen biết với Lê Hữu Qu, sinh năm 1998, ngụ tổ 26, khóm M, phường 3, thành phố C và cùng nghiện chất ma túy đá.
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20-8-2017, Nguyễn Văn C nhận được điện thoại của đối tượng tên L (không rõ nhân thân) nhờ đi thành phố Hồ Chí Minh lấy ma túy về sẽ trả tiền công 1.000.000 đồng, C đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, C điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-trắng, biển số 66B1-231.3x đến nhà Lê Hữu Qu ở tổ 26, khóm M, phường 3, thành phố C rủ đi thành phố Hồ Chí Minh lấy chất ma túy cho người khác sẽ được trả công 1.000.000 đồng, số tiền có được sẽ chia nhau tiêu xài nên Qu đồng ý. Ngay sau đó, Qu cùng C đi chung 1 xe mô tô do C điều khiển. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả hai đến thành phố Hồ Chí Minh, C điện thoại di động cho đối tượng tên T theo số điện thoại L cung cấp, T chỉ đường cho C đến một địa điểm thuộc quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Đến nơi, Qu đứng giữ xe, còn C đi đến một căn nhà theo chỉ dẫn của T. Khi C đi đến thì có một người nam hỏi về nhân thân của C, nghe C nói C là em của L thì người nam này chỉ bịch ma túy để trên chậu kiểng cách nơi C đứng khoảng 03 mét. C lấy bịch ma túy để trong bịch nylong màu trắng mang lại chổ Qu, sau đó bỏ vào bịch nylong màu đen rồi đưa Qu giữ, C điều khiển xe chở Qu về thành phố C.
Đến khoảng 03 giờ ngày 21-8-2017, khi cả hai đến đường TH, thuộc tổ 33, khóm Th, phường H, thành phố C thì bị Công an thành phố C kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên người Lê Hữu Qu: 01 bịch nylong màu đen, kiểu túi xách, bên trong chứa 01 bịch nylong màu trắng có nhiều tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong ký hiệu A1), tiền Việt Nam 80.000 đồng (niêm phong ký hiệu A3), 01 điện thoại di động Samsung, màu đen; thu giữ trên người Nguyễn Văn C: 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 ví màu đen, tiền Việt Nam 1.800.000 đồng (niêm phong ký hiệu A2) và thu giữ 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh- trắng, biển số 66B1-231.3x cùng giấy phép đăng ký xe tên Nguyễn Văn H.
Tại Kết luận giám định số 536 ngày 22-8-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: tinh thể rắn trong 01 bịch nylong màu trắng hàn kín đựng trong bịch nylong màu đen (dạng quai xách) được niêm phong ký hiệu A1 là chất ma túy, khối lượng 89,6865 gram, loại Methamphetamine. (niêm phong lại chất ma túy còn lại sau giám định ký hiệu 536 ngày 22-8-2017).
Đối với xe môtô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh- trắng, biển số 66B1-231.3x là do C mượn của đối tượng tên Nh (không rõ nhân thân). Qua xác minh xe này do Nguyễn Văn H, sinh năm 1975, ngụ ấp Tr, xã TQ, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp đứng tên giấy đăng ký xe. Tuy nhiên, qua xác minh H không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu để làm căn cứ để xử lý.
Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen là phương tiện mà C dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với số tiền 1.800.000 đồng của Nguyễn Văn C và 80.000 đồng của Lê Hữu Qu cùng điện thoại di động Samsung, màu đen là tài sản cá nhân của 02 bị cáo.
Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại Nguyễn Văn C 01 ví màu đen do không liên quan đến việc phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyễn Văn C và Lê Hữu Qu thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, biên bản kiểm tra điện thoại, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án số 03/2018/HS-ST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn C và Lê Hữu Qu phạm tội “Vận ch yển r i hé chấ ma úy”.
1/ Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21-8-2017.
Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
2/ Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Lê Hữu Qu 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21-8-2017.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì thuộc diện hộ cận nghèo.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08 tháng 02 năm 2018, bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Hữu Qu có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hữu Qu đã tự nguyện rút kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Hữu Qu bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức án 10 năm tù đối với bị cáo Nguyễn Văn C là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Văn C đã tự nguyện nộp bổ sung số tiền 5.000.000 đồng, đây được xem là tình tiết mới ở giai đoạn xét xử phúc thẩm nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn C. Đối với bị cáo Lê Hữu Qu tại phiên tòa phúc thẩm đã tự nguyện rút kháng cáo nên đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu Qu.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn C, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt giảm cho bị cáo Nguyễn Văn C từ 03 đến 06 tháng tù, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu Qu.
NH N ĐỊNH CỦA T A N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo C và Qu đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/8/2017, Nguyễn Văn C điều khiển xe môtô chở Lê Hữu Qu vận chuyển trái phép khối lượng 89,6865 gram chất ma túy (loại Methamphetamine) cho người tên L (không rõ nhân thân) từ thành phố Hồ Chí Minh về thành phố C tiền công 1.000.000 đồng. Đến 03 giờ ngày 21/8/2017, khi cả hai điều khiển xe trên đường TH, thuộc tổ 33, khóm Th, phường H, thành phố C thì cả hai bị bắt quả tang. Thu giữ trên người Lê Hữu Qu 01 bịch nylong màu đen bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng. Theo Kết luận giám định số 536 ngày 22-8-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp thì tinh thể rắn trong 01 bịch nylong màu trắng hàn kín đựng trong bịch nylong màu đen được niêm phong là chất ma túy, khối lượng 89,6865 gram, loại Methamphetamine.
[2] Đối với hành vi của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo phải nhận thức được ma túy có tác hại rất xấu đến sức khỏe và sự phát triển của người sử dụng, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiêm cấm mua bán, vận chuyển và tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích là để bảo vệ sức khỏe con người. Việc vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm. Vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đến điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Xét mức án 10 năm tù đối với bị cáo Nguyễn Văn C là phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Văn C đã tác động gia đình nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng theo Bản án sơ thẩm đã tuyên, đây được xem là tình tiết mới ở giai đoạn xét xử phúc thẩm nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Đối với bị cáo Lê Hữu Qu đã tự nguyện rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm.
[5] Chính vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn C, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu Qu.
[6] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lê Hữu Qu đã rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 348; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu Qu. Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HS-ST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Lê Hữu Qu.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn C, sửa phần quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/8/2017.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Hữu Qu không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nh n:
TM HỘI ĐỒNG T PHÚC TH M
- TANDTC (Vụ GĐKT1-Vụ1);
TH M H N – CHỦ T A HI N T A
- Ban Nội chính Tỉnh ủy;
- Sở Tư pháp Tỉnh;
- VKSND Tỉnh;
- Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
- Trại tạm giam Công an Tỉnh (04 bản, giao mỗi bị cáo 01 bản);
- TA-VKS-THADS TP C;
- Cơ quan CSĐT Công an TP C;
- Các bị cáo;
- Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
Trần Trung Thành
- Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh;
- Lưu: VT, HSVA (Trúc).