- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 98/ 2018/ HNGĐ-ST Ngày: 14/ 8/ 2018 V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Khưu Để Dành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoàng Cảnh.
2. Ông Phan Minh Quốc.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 154/2018/TLST-HNGĐ ngày 10/5/2018 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh 1993 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T A, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Lâm Thanh H, sinh 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Lâm Thanh H chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới, tỉnh An Giang. Sau khi sinh con chung tên Lâm Văn A, sinh ngày 18/01/2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Đầu năm 2016, anh H đến năn nỉ chị về và mới đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã V, huyện T. Nhưng đến tháng 6/2017, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, nguyên nhân do anh H ghen tuông mù quáng, nghe theo lời bạn bè chửi, nói những lời lẽ bôi nhọ nhân phẩm chị nên chị xin được ly hôn.
Về quan hệ con chung, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không có chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lâm Thanh H: Kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh H đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị đơn anh Lâm Thanh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh H.
Sau khi quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau, năm 2011 chị Lê Thị T với anh Lâm Thanh H tự nguyện chung sống với nhau được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 41 ngày 18/8/2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của chị Lê Thị T, thấy: Vợ chồng chị T và anh H chung sống với nhau, có thời gian hạnh phúc và đã có con chung; tuy nhiên, sau khi sinh con thì phát sinh mâu thuẫn, chị về nhà cha mẹ ruột sống. Đầu năm 2016, vợ chồng hàn gắn và đăng ký kết hôn, nhưng đến tháng 6/2017 thì mâu thuẫn trầm trọng nên đã sống ly thân cho đến nay; kể từ khi sống ly thân đến nay chị T với anh H không gặp nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau. Ngoài lời trình bày của chị T, điều này còn được thể hiện, kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh H đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung. Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị Lê Thị T với anh Lâm Thanh H không còn, tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T.
Xét về quan hệ con chung, thấy: Cháu Lâm Văn A, sinh ngày 18/01/2012 hiện đang được chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hội đồng xét xử thấy, để ổn định cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu A nên áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Lâm Văn A cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chị Lê Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T ly hôn với anh Lâm Thanh H.
Về quan hệ con chung:
- Giao con chung tên Lâm Văn A, sinh ngày 18/01/2012 (hiện đang sống với chị Lê Thị T) cho chị Lê Thị T trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Anh Lâm Thanh H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu A được sống chung với chị T và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị T không được cản trở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị T chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001133 ngày 10/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án; anh Lâm Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã, phường, trị trấn nơi đương sự cư trú; - Các đương sự (Để thi hành). - Lưu: Hồ sơ, Văn Phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |