vanban.org

Bản án 98/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 31/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vương!Quốc!C!phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Điểm b khoản 2 Điều 194; Điều 33; Điều 41 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vương!Quốc!C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2017. !!!!!-!Xử!lý!vật!chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Quốc Cường - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương!Quốc!C!phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản!án!số:!98!/2017/HSST!
Ngày:!31/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN HUYỆN Đ

!!!!!-!Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

!

Thẩm!phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng.

Các!hội!thẩm!nhân!dân: 1. Bà Ngô Thị Yêm.

2. Bà Nguyễn Thị Giang. !

- Thư!ký!Tòa!án!ghi!biên!bản!phiên!tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu.

- Đại! diện! Viện! kiểm! sát! nhân! dân! huyện! Đ! tham! gia! phiên! tòa:

ông Đỗ Cao Chí - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, thành phố

Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên tòa lưu động xét xử công khai vụ án

hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2017/HSST ngày 18/7/2017 đối với bị cáo:

Họ tên: Vương!Quốc!C sinh năm 1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi

ở: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình

độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con

ông: Vương Văn D; Con bà: Nguyễn Thị M; Vợ: Nguyễn Thị H; Con: có 02 con,

lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Theo Danh bản, Chỉ bản

số 195 lập ngày 29/4/2017 tại Công an huyện Đ thì bị cáo có tiền án, tiền sự như

sau:

- Năm 2010 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại trung tâm 06, huyện S, Hà Nội.

- Ngày 08/05/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử Phúc thẩm và

tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ 26/4/2017, tạm giam từ 29/4/2016 đến nay tại Trại giam Hà

Nội - Có mặt tại phiên tòa.

Người!có!quyền!lợi!nghĩa!vụ!liên!quan:

Anh Nguyễn!Văn!H, sinh năm 1987; Trú tại: Thôn N, xã K, huyện M, thành phố

Hà Nội - Vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Vương!Quốc!C!bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 26/4/2017, tổ công tác Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Đ làm nhiệm vụ tại khu vực thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội khám người theo thủ tục hành chính đối với Vương Quốc C, Nguyễn Văn H và Trần Văn T, phát hiện và thu giữ vật chứng như sau:

Tạm giữ của Vương Quốc C: 01 túi nilon màu trắng C cất dấu ở trong quần lót đang mặc, bên trong có 08 gói giấy bạc màu trắng và 22 gói giấy nhiều màu cùng có kích thước khoảng (1 x 1,5)cm bên trong tất cả các gói đều có chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số thuê bao: 0986530903; 200.000 đồng trong lòng bàn tay phải và 01 xe đạp.

Tạm giữ của Nguyễn Văn H: 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (1 x 1,5)cm bên trong có chất bột màu trắng nghi là Heroine trong lòng bàn tay trái và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing, số thuê bao: 01676819930.

Không phát hiện tạm giữ gì của Trần Văn T.

Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Vương Quốc C, Nguyễn Văn H và Trần Văn T về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan Điều tra Vương Quốc C khai nhận: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/4/2017 khi C đang ở nhà tại thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội thì nhận được điện thoại từ số: 01676819930 của H gọi đến số của C là: 0986530903 đặt vấn đề mua 01 gói Heroin với giá 200.000 đồng, C đồng ý, hai bên thống nhất sẽ giao ma túy và nhận tiền tại khu vực cổng C, khu công nghiệp B. Sau đó C lấy xe đạp đi ra điểm hẹn gặp H. Đến nơi hẹn C thấy H đang ngồi đợi ở ria đường cùng Trần Văn T. Tại đây, C nhận 200.000 đồng và đưa lại cho H 01 gói heroin, ngay lúc đó bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 3046/KLGĐ - PC54, ngày 23/5/2017, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Chất bột màu trắng trong 30 gói thu giữ của Vương Quốc C là ma túy loại heroin, có trọng lượng: 1,740 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Nguyễn

Văn H là ma túy loại heroin, có trọng lượng: 0,034 gam.

Ngoài lần bán ma túy cho H ngày 26/4/2017, Vương Quốc C còn khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/4/2017 Cường bán cho H 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng tại khu vực cổng C, khu công nghiệp B.

Tại Cơ quan Điều tra Nguyễn Văn H khai nhận, do H nghiện ma túy nên biết C có bán ma túy, do đó H đã gọi điện thoại đặt mua 02 lần của C ngày 25, 26/4/2017. Lời khai của H phù hợp với lời khai của Vương Quốc C. Mục đích H mua ma túy của C về để dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Cơ quan Điều tra đã tiến hành dẫn giải C và H đi xác định địa điểm của 02 lần

bán ma túy, cả hai đều chỉ đúng địa điểm đã giao nhận ma túy. Đồng thời ra Lệnh

thu giữ điện tín tại Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel xác định trong các ngày

25 và 26/04/2017, Vương Quốc C và Nguyễn Văn H có liên lạc với nhau, phù hợp

với lời khai của C và H cũng như các tài liệu khác đã thu thập được để chứng minh

việc C và H đã giao dịch mua bán trái phép chất ma túy.

Nguồn gốc số ma túy C khai trước đó khoảng 01 tuần, C mua của một người

đàn ông (không biết tên và địa chỉ cụ thể) đứng ven đường ở khu vực P, tỉnh Thái

Nguyên 01 gói heroin với giá 900.000 đồng. C đã chia ra thành 35 gói nhỏ (bao

gồm 10 gói heroine bọc bằng giấy bạc màu trắng với mục đích để bán lại với giá

200.000 đồng/gói và 25 gói Heroine bọc bằng giấy nhiều màu với mục đích để sử

dụng và bán lại với giá 100.000 đồng/gói). C đã sử dụng hết 03 gói heroine gói

bằng giấy nhiều màu và bán cho H 02 gói giấy bạc giá 200.000 đồng/gói vào ngày

25 và 26/4/2017.

Tại bản cáo trạng số 98/CT - VKS ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Đ đã truy tố bị cáo Vương Quốc C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên

tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và

kết luận Vương Quốc C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị

Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; Điều 33, Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76

Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Xử phạt Vương Quốc C từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 1,740 gam

heroin (thu giữ của Vương Quốc C) và 01 (một) phong bì niêm phong bên trong

chứa 0,034 gam heroin (thu giữ của Nguyễn Văn H).

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung,

số thuê bao: 0986530903; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing, số thuê bao:

01676819930 và 200.000 đồng.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo quanh co, lúc thừa nhận, khi thì không thừa nhận

hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn H ngày 25/4/2017. Tuy nhiên bị cáo xác định

bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy

theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan sai. Bị cáo cũng

đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả

tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến

của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra; phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án, sơ đồ hiện trường, thời gian địa điểm xảy ra vụ án; Phù hợp biên bản thu giữ vật chứng vụ án, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 25 và 26/4/2017 tại khu vực cổng C khu Công nghiệp B thuộc thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội Vương Quốc C đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H với giá 400.000 đồng/02 gói.

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự, như kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại quyền độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành nên biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng nên buộc bị cáo phải nhận thức được hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để xử phạt các tội phạm về ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lời bất chính.

Bởi vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung.

Nhân!thân!của!bị!cáo: Năm 2010 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại trung tâm 06, huyện S, thành phố Hà Nội và ngày 08/05/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử Phúc thẩm và tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Như vậy xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn, còn quanh co chối tội. Như vậy thể hiện bị cáo không thành khẩn khai báo và không ăn năn hối cải, do vậy bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Người đàn ông đã bán ma túy cho Vương Quốc C, do C khai không biết họ tên,

địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không

có căn cứ để làm rõ.

Đối với Trần Văn T là người đi cùng Huân, xác định không liên quan đến vụ án

nên Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Văn H đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,034 gam heroin, chưa

cấu thành tội phạm. Ngày 23/5/2017 Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi

phạm hành chính đối với H là có căn cứ.

!!!!!Xử!lý!vật!chứng:!

- Chiếc xe đạp thu giữ của C, xác định là xe đạp do chị Nguyễn Thị H – (vợ C)

mua cho con trai sử dụng làm phương tiện đi học, việc bị cáo sử dụng để đi bán ma

túy chị H và con không biết, nên Cơ quan Điều tra đã tra đã trả lại cho chị H là chủ

sở hữu hợp pháp là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 Bộ luật Hình

sự và điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 1,740 gam heroin (thu giữ của

Vương Quốc C) và 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,034 gam

heroin (thu giữ của Nguyễn Văn H) cho tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c

khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình

sự.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số thuê bao: 0986530903; 01

điện thoại di động nhãn hiệu Wing, số thuê bao: 01676819930 C và H đã sử dụng

vào việc giao dịch, mua bán ma túy - là công cụ, phương tiện phạm tội do vậy cho

tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình

sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 200.000 đồng là tiền thu lời bất chính do bán ma túy mà có, do vậy cho tịch thu

sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự và

điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án!phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Quyền!kháng!cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền

kháng cáo theo quy định tại Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự.

!!!!!Vì!các!lẽ!trên;!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vương!Quốc!C!phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng:

Điểm b khoản 2 Điều 194; Điều 33; Điều 41 Bộ luật Hình sự.

Điều 76, Điều 99, Điều 231, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

- Xử phạt Vương!Quốc!C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2017. !!!!!-!Xử!lý!vật!chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 1,740 gam

heroin và 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,034 gam heroin, theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, thành phố Hà Nội.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung,

số thuê bao: 0986530903; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing, số thuê bao: 01676819930, theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, thành phố Hà Nội.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 200.000 đồng theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản

chuyển tiền điện tử số 117 lập ngày 27/7/2017. !!!!!-!Án!phí:

Bị cáo Vương Quốc C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm về hình sự; tuyên có mặt bị cáo, vắng mặt người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H có quyền kháng

cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ