- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "dân sự"
- Tòa quyết gì? Buộc bà Lê Thị Ngọc C có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V số tiền 20.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 98/2017/DSST Ngày: 23-8-2017 Về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp;
2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đình Đông Quân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 282/2017/TLST-DS ngày 17/5/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 107/2017/QĐXXST-DS ngày 04/8/2017, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần V.
Địa chỉ: Tầng 1-7 tòa nhà Thủ Đô, số 72, phố T, phƣờng Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Lầu 5, Tòa nhà 144 Cộng Hòa, Phƣờng K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 08/3/2017), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 1960.
Thƣờng trú: 11/8 khu phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ngƣời đại theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Thúc Đ trình bày:
Ngày 10/7/2014, bà Lê Thị Ngọc C ký “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140716-104007-0002 với Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 15.750.000 đồng (mƣời lăm triệu, bảy trăm năm mƣơi nghìn đồng) với lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, bà Lê Thị Ngọc C có trách nhiệm thanh toán số tiền 28.934.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 805.000 đồng, tháng cuối cùng trả 759.000 đồng. Thanh toán vào ngày 18 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 18/08/2014.
Thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị Ngọc C đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Ngân hàng 09 lần cả gốc và lãi với số tiền 7.635.000 đồng. Kể từ ngày 24/6/2015, bà Lê Thị Ngọc C không thanh toán bất cứ khoản tiền nào dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Trong đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng có ghi tên ông Trần Văn L (là chồng bà C) và anh Trần Lê Duy P (là con bà C) mục đích để tham chiếu và thuận tiện liên lạc, ông L và anh P không ký tên vay tiền. Nay, Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị Ngọc C trả tiền nợ một lần với số tiền là 20.889.945 đồng, trong đó bao gồm: 17.320.000 đồng số tiền nợ gốc, lãi đến hạn và 3.569.945 đồng nợ gốc chƣa đến hạn.
- Bị đơn bà Lê Thị Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa nhƣng tại bản tự khai ngày 26/5/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng bà Lê Thị Ngọc C trình bày:
Bà C thống nhất với nội dung trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của Ngân hàng về số tiền đã vay, quá trình trả nợ. Tuy nhiên, trong quá trình trả nợ bà C gặp khó khăn nên không tiếp tục trả nợ vay cho Ngân hàng. Nay trƣớc yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng bà C đồng ý trả số nợ 20.889.945 đồng cho Ngân hàng, nhƣng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần số nợ trên bằng cách mỗi tháng trả 500.000 đồng.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đƣơng sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V đối với bị đơn bà Lê Thị Ngọc C là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Ngọc C có địa chỉ tại khu phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng phải trả số tiền nợ 20.889.945 đồng phát sinh từ “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140716-104007-0002 ngày 10/7/2014. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện….tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày ng ời có quy n yêu c u i t ho c ph i i t quy n và lợi ch hợp pháp của mình ị xâm ph m”. Từ ngày 24/6/2015, bà Lê Thị Ngọc C không thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngày 12/5/2017, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ nên thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vẫn còn.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Thúc Đ và bị đơn bà Lê Thị Ngọc C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.
Xét “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140716-104007-0002 ngày 10/7/2014 đƣợc giao kết giữa Ngân hàng với bà C đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C mới thanh toán cho Ngân hàng đƣợc 09 lần với số tiền 7.635.000 đồng. Kể từ ngày 24/6/2015 đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện, bà C không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, nhƣ vậy bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Số tiền nợ và quá trình trả nợ cũng đƣợc bà Lê Thị Ngọc C thừa nhận nên đây là tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C phải trả số nợ trả số nợ đến hạn và khoản nợ chƣa đến hạn với số tiền 20.889.945 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu của bà C đề nghị Ngân hàng cho trả dần số nợ trên nhƣng Ngân hàng không đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận. Do “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” không thỏa thuận về lãi quá hạn nên để bảo đảm quyền lợi của bên đƣợc thi hành án, trong trƣờng hợp này bên phải thi hành án chậm thanh toán đối với nghĩa vụ trả tiền, cần buộc bên có nghĩa vụ trả tiền phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là phù hợp nhƣ những phân tích nêu trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc C phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Buộc bà Lê Thị Ngọc C có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V số tiền 20.889.945 đồng (hai mƣơi triệu tám trăm tám mƣơi chín nghìn chín trăm bốn mƣơi lăm đồng) còn nợ phát sinh từ “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20140716-104007-0002 ngày 10/7/2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc C phải chịu 1.044.497 đồng (một triệu không trăm bốn mƣơi bốn nghìn bốn trăm chín mƣơi bảy đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V số tiền 523.000 đồng (năm trăm hai mƣơi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009360 ngày 16/5/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An.
3. Ngân hàng thƣơng mại cổ phần V và bà Lê Thị Ngọc C vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND TX Dĩ An; - Chi cục THADS TX Dĩ An; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT; HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Thị Minh Châu |