- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 978/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Bé;
2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 438/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2023/QĐXX-ST ngày 19 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 206/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ N, sinh năm 1996 (có mặt).
Thường trú: Số 7/1 ấp B, xã L, huyện H, tỉnh Vĩnh Long.
Tạm trú: 208 tổ 4, ấp 4, xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 2E đường 214, tổ 8, ấp 5, xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 17/3/2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tấn P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 do Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2020. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng bà thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, hay mâu thuẫn về vấn đề kinh tế làm cho gia đình không còn hạnh phúc. Vợ chồng bà ly thân hơn 06 (sáu) tháng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn P.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Lan K, sinh ngày 21/8/2020. Nguyễn Ngọc Lan K hiện đang sống cùng ông P. Bà N đồng ý giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn P vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Huỳnh Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Tấn P hiện đang cư trú tại số 2E, đường 214, tổ 8, ấp 5, xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Tấn P đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị Mỹ N và ông Nguyễn Tấn P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 do Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2020.
Xét lời trình bày của bà N thì sau kết hôn giữa bà và ông P đã có nhiều khác biệt về cách sống và quan điểm sống. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng bà thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, hay mâu thuẫn về vấn đề kinh tế làm cho gia đình không còn hạnh phúc. Vợ chồng bà ly thân hơn 06 (sáu) tháng nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Tấn P.
Ông P đã được Tòa án triệu tập nhưng ông không đến tòa. Ông P cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến, không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N đối với ông P là có cơ sở.
Về con chung:
Bà N và ông P có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Lan K, sinh ngày 21/8/2020. Bà N đồng ý giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy ông P đang trực tiếp chăm sóc và sống ổn định với trẻ Nguyễn Ngọc Lan K. Để ổn định tâm lý cho trẻ, căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên giao con chung Nguyễn Ngọc Lan K cho ông Nguyễn Tấn P nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, ông P không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà N trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Nguyễn Tấn P vắng mặt tại phiên tòa. Nếu ông P có tranh chấp về cấp dưỡng, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Huỳnh Thị Mỹ N phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ N là được ly hôn với ông Nguyễn Tấn P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 20 do Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2020 không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung:
Giao trẻ Nguyễn Ngọc Lan K, sinh ngày 21/8/2020 cho ông Nguyễn Tấn P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N tạm thời không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Huỳnh Thị Mỹ N phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2023/0017104 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
[6] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - UBND xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thủy |