vanban.org

Bản án 974/2018/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/10/2018 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn c Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn c Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 974/2018/HNGĐ-PT Tuyên án 30/10/2018
Phúc thẩm Bản án 665/2021/HNGĐ-PT Tuyên án 03/12/2021
Phúc thẩm Bản án 665/2021/HNGĐ-PT Tuyên án 03/12/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hoàng L-Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 974/2018/HNGĐ-PT
Ngày: 30-10-2018
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan

Các Thẩm phán:

1. Bà Trần Thị Lệ Uyên;

2. Bà Trần Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Võ Phạm Phương Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H (số 26 đường LTT, phường BN, Quận M, Thành phố H) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2018/TLPT- HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 về Tranh chấp Ly hôn.

Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 733/2018/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4547/2018/QĐ-PT ngày 05 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ng Nguyễn Hoàng L sinh năm: 1974

Địa chỉ: 43/57 đường DN, Phường H, Quận T, Thành phố H. (c m t

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

ng Võ Văn H – Luật sư Công ty Luật TNHH Luật SD thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (c m t

- đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1987

Địa chỉ: 43/57 đường DN, Phường H, Quận T, Thành phố H. (c m t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Hoàng L - nguyên đơn trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị N kết hôn và sống chung v i nhau t năm 2007 (Giấy ch ng nhận kết hôn số 89/KH, quyển số 01/2007 ngày 13.6.2007 của Ủy ban nhân dân Phường H, Quận T, Thành phố H c 02 con chung là Nguyễn Hu nh Thiên V, sinh ngày 20.5.2009 và Nguyễn Hu nh Thiên P, sinh ngày 02.8.2012.

Theo trình bày của nguyên đơn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc ông gửi đơn ly hôn là do bà Nguyệt c quan hệ bên ngoài v i người khác, không quan tâm chăm s c con và gia đình sau đ b nhà đi t cuối năm 2017 nhưng không cho gia đình biết nơi cư trú.

Về con chung: Ông L yêu cầu đư c nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà N cấp dư ng.

Tài sản chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết trong vụ án.

N chung: Không c . Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

à Nguyễn Th N – b đơn trình bày: Bà thống nhất v i lời trình bày của ông L về việc kết hôn và quá trình chung sống. Về nguyên nhân mâu thuẫn, bà cho r ng chủ yếu xuất phát t gia đình ch ng, m c d sống riêng nhưng cha, m ch ng luôn can thiệp vào cuộc sống của v ch ng bà; do không chịu đựng đư c áp lực bà dọn ra ngoài thuê nhà ở chung c ng v i bạn nên không tiện cho gia đình biết nơi ở. Hiện tình cảm v ch ng đ không thể hàn g n đư c nên bà đ ng ý ly hôn theo yêu cầu của ông L.

Về con chung: Bà N yêu cầu đư c trực tiếp nuôi tr Nguyễn Hu nh Thiên P, không yêu cầu ông L cấp dư ng nuôi con.

Tài sản chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết trong vụ án.

N chung: Không c . Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 733/2018/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2018, Tòa án nhân dân Quận T đ quyết định:

Căn c Điều 51, Điều 55, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình,

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Hoàng L v i bà Nguyễn Thị N.

- Về con chung: C 02 con chung tên Nguyễn Hu nh Thiên V, sinh ngày 20.5.2009 và Nguyễn Hu nh Thiên P, sinh ngày 02.8.2012. Giao 02 (hai) con chung cho ông Nguyễn Hoàng L trực tiếp nuôi dư ng.

Tạm ho n việc cấp dư ng nuôi con đối v i bà N do ông L chưa c yêu cầu.

Bà N c quyền thăm nom, chăm s c, giáo dục con chung mà không ai đư c quyền ngăn cản.

Vì l i ích của tr , theo yêu cầu của cha, m ho c cá nhân tổ ch c đư c quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án c thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con ho c m c cấp dư ng nuôi con theo luật định.

- Về tài sản chung: Ông L và bà N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- N chung: Không c . Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03.8.2018 bà Nguyễn Thị N kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm v i nội dung: Yêu cầu đư c trực tiếp nuôi dư ng tr Nguyễn Hu nh Thiên P.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên kháng cáo v i lý do thu nhập của bà mỗi tháng 15.000.000 (mười lăm triệu đ ng đủ điều kiện để nuôi con, bên cạnh đ giờ giấc làm việc của bà ổn định, đ thuê nhà ở riêng nên sẽ thuận tiện cho việc dạy dỗ và chăm s c tr Thiên P.

- Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng L không rút Đơn khởi kiện, không đ ng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N đ ng thời đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự không th a thuận đư c v i nhau việc giải quyết vụ án.

- Luật sư bảo vệ quyền l i cho nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm v i các lý do:

+ Về điều kiện chỗ ở và trách nhiệm chăm s c con: ng Nguyễn Hoàng L hiện c nơi ở ổn định, 02 tr Thiên V và Thiên P đang sống chung v i ông L, c ông bà nội và bà ngoại phụ giúp trong việc chăm s c, các cháu đ quen v i việc m thường xuyên v ng nhà. Bà N hiện đang ở nhà thuê, thường b nhà đi không quan tâm đến các con.

+ Về điều kiện kinh tế: Ông L c thu nhập ổn định, mỗi tháng hơn 30.000.000đ (ba mươi triệu) đ ng. Bà N thu nhập mỗi tháng 15.000.000đ (mười lăm triệu) đ ng nhưng v a phải trả tiền thuê nhà, v a chi phí sinh hoạt gia đình.

Căn c các điều kiện như trên, đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố H đ tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, chuyển h sơ cho Viện Kiểm sát nghiên c u đúng thời hạn luật định.

Tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử tuân thủ đúng nguyên t c xét xử, đảm bảo các bên đương sự đư c phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; các đương sự đ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

- Về hình th c đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N còn trong thời hạn luật định nên h p lệ.

- Về nội dung kháng cáo: Qua lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm đ ng thời xem xét toàn bộ tài liệu, ch ng c thể hiện tại h sơ, xét về điều kiện hoàn cảnh của cả ông L và bà N thì ông L c đủ điều kiện hơn để nuôi con và đảm bảo cho con chung phát triển toàn diện nên đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm căn c khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c u tài liệu ch ng c c trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn c vào kết quả h i, tranh luận tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận định:

. Về hình th c: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N còn trong hạn luật định nên c cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Về nội dung kháng cáo:

Căn c Giấy ch ng nhận kết hôn số 89/KH của Ủy ban nhân dân Phường H, Quận T, Thành phố H Chí Minh ngày 13.6.2007 thì hôn nhân giữa ông Nguyễn Hoàng L và bà Nguyễn Thị N là h p pháp. Tòa án cấp sơ thẩm căn c th a thuận, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông L v i bà N, phần này các đương sự không kháng cáo và không bị kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị N yêu cầu đư c trực tiếp nuôi dư ng tr Nguyễn Hu nh Thiên P, Hội đ ng xét xử nhận thấy: Đối v i con chung, bà N và ông L đều c tình yêu thương con như nhau, đều muốn đư c trực tiếp chăm s c và nuôi dư ng; tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi cần xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn để quyết định nh m đảm bảo quyền l i về mọi m t cho tr .

Theo trình bày của bà N, bà c nghề nghiệp ổn định, thu nhập mỗi tháng là 15.000.000 (mười lăm triệu đ ng và ông L trình bày ông cũng c điều kiện tốt, đảm bảo cuộc sống cho cả 02 con; tuy nhiên, như trên đ nhận định việc giao con cho ai trực tiếp nuôi đều phải vì l i ích của tr . Căn c vào lời khai của các đương sự và tài liệu c trong h sơ vụ án Hội đ ng xét xử nhận thấy về việc làm và thu nhập thì cả ông L và bà N đều c điều kiện như nhau; tuy nhiên, trên thực tế tr Nguyễn Hu nh Thiên P đang sống c ng v i ông L và tr Nguyễn Hu nh Thiên V t lúc bà N dọn ra ngoài ở (tháng 02.2018 , đư c ông L chăm s c tốt, không c vấn đề gì cần lưu ý.

Về điều kiện chỗ ở và thời gian làm việc: 02 con chung đang sống cùng v i ông L tại địa chỉ số 43/57 đường DN, Phường H, Quận T, đây là nơi ở ổn định và lâu dài còn bà N hiện đang ở nhà thuê, theo h p đ ng bà N xuất trình tại tòa thì nhà này thời hạn thuê đến tháng 02.2019. Theo lời trình bày của cả 02 bên thì thời gian làm việc của ông L và bà N đều ổn định, c khả năng đưa đ n con đi học hàng ngày, tuy nhiên bà N cho r ng trường h p c công việc đột xuất vẫn phải nhờ sự hỗ tr của ông, bà nhưng hiện tại ông bà nội và bà ngoại đều ở gần nhà v i ông L.

Xét thấy: Bà N kháng cáo yêu cầu trực tiếp nuôi 01 con chung là tr Nguyễn Hu nh Thiên P nhưng hiện tại bà chưa thu xếp đư c nơi ở ổn định, không c người hỗ tr trong việc chăm s c, đưa đ n nên việc đưa tr Thiên P về sống c ng v i mình sẽ g p kh khăn hơn so v i ông L. Do đ , xét về hoàn cảnh thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn, ông L đủ điều kiện lo cho con, thuận l i trong việc đưa đ n và chăm s c, Tòa án cấp sơ thẩm giao 02 tr Thiên V và Thiên P cho ông L trực tiếp nuôi dư ng là c căn c ; hiện tại tr Thiên P đang sống c ng v i ông L và anh trai là tr Thiên V, việc giao tr P cho ông L tiếp tục nuôi dư ng sẽ đảm bảo đư c sự ổn định về m t tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống nh m tạo điều kiện để 02 tr phát triển toàn diện về mọi m t nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà N, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Về án phí: Do Hội đ ng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn c Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn c Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 733/2018/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận T.

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Hoàng L và bà Nguyễn Thị N.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Hu nh Thiên V, sinh ngày 20.5.2009 và Nguyễn Hu nh Thiên P, sinh ngày 02.8.2012 cho ông Nguyễn Hoàng L trực tiếp trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Tạm ho n việc cấp dư ng nuôi con đối v i bà Nguyệt do ông L chưa c yêu cầu.

Bà N c quyền thăm nom, chăm s c, giáo dục con chung mà không ai đư c quyền ngăn cản.

Vì l i ích của tr , theo yêu cầu của cha, m ho c cá nhân tổ ch c đư c quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án c thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con ho c m c cấp dư ng nuôi con theo luật định.

- Về tài sản chung: ng L và bà N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về n chung: Không c . Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: ng Nguyễn Hoàng L chịu 300.000 (ba trăm ngàn đ ng, đư c tr vào số tiền tạm ng án phí đ nộp theo biên lai số AA/2017/0014406 ngày 21.3.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận T, Thành phố H. Ông L không phải nộp thêm án phí sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đ ng, đư c tr vào số tiền tạm ng án phí đ nộp theo biên lai số AA/2018/0018179 ngày 06.8.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận T, Thành phố H. Bà N không phải nộp thêm án phí phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ