vanban.org

Bản án 97/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Vĩnh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Vĩnh K 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo Lê Vĩnh K cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vĩnh Kh - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Vĩnh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2026/HSST
Ngày: 22-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Huy Khoa

Bà Nguyễn Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Huy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2026/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2026/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Vĩnh K, Giới tính: N; Sinh năm: 1984; Nơi sinh: Lâm Đồng; Nơi thường trú: thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Họ tên cha: Lê T, sinh năm: 1948 và con bà Lê Thị Hồng T1, sinh năm: 1948, hiện ở thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng; A, chị, em ruột: Có 05 người, lớn nhất sinh năm: 1970, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Lò Thị Thu T2, sinh năm: 1983, hiện ở thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng; Con: Có 02 con, lớn sinh năm: 2009, nhỏ sinh năm: 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Vào ngày 04/5/2007, bị cáo bị TAND huyện Đức Trọng (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 17/9/2007 bị cáo đã nộp tiền án phí 50.000đồng, đến nay bị cáo đã chấp hành xong hình phạt (đã được xoá án tích). Bị cáo hiện nay đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Đồng Anh V, sinh năm 1994.

Trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị P, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/11/2025, Hoàng Nguyễn Đông Q và Đ V điều khiển xe ô tô tải khi đi đến trước quán C1 ơ thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng và đỗ xe tại đây để đi công việc. Một lúc sau thì V và Q lên xe ô tô ngồi (do trời mưa) thì xe trôi về phía trước dẫn đến va chạm với xe ô tô của chị Hoàng Thị P là chủ quán cà phê Ri C đang đỗ ở lề đường trước quán cà phê. Lúc này V cùng với anh Q xuống xe gặp chị P để nói chuyện thoả thuận việc bồi thường, V và Q vào quán cà phê ngồi chờ ở bàn uống nước trước quán còn chị P đang xem xe bị hư hỏng ra sao. Lúc này Lê Vĩnh K đi đến thì chị P nhờ K nói chuyện với V để thoả thuận bồi thường thiệt hại cho xe ô tô của chị P bị hư hỏng do V gây ra. Sau đó K vào bàn ngồi đối diện với V và nói chuyện, trong lúc nói chuyện thì giữa V và K xảy ra cãi nhau, V nói với K “việc không liên quan gì đến ông và bớt lo chuyện bao đồng đi” và nói một số lời nói chưa đúng chuẩn mực và lịch sự dẫn đến K búc xúc, cùng lúc này nhân viên quán cà phê mang ly thuỷ tinh ra để trên bàn để mọi người uống trà, do bực tức nên K đã cầm ly thuỷ tinh ném trúng vào vùng trán của V dẫn đến V bị thương ở trán, do ly thuỷ tinh bị vỡ nên mảnh vỡ của ly thuỷ tinh rơi trúng tay trái của V gây thương tích cho V ở tay trái và vùng trán. Sau đó mọi người ra về, V được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế K1, sau đó chuyển lênh Bệnh viện Đ để điều trị thương tích.

Tại Kết luận giám định 223/KLTTCT-PYLĐ ngày 15/12/2025 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đ V tại thời điểm giám định là 20% (hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư; tổn thương do vật có cạnh sắc gây nên.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại được bị hại có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Đối với một số mảnh vỡ của ly thuỷ tinh đã được thu giữ và niêm phong; Đối với 01 USB hiệu micro SD, dung lượng 02 GB, bên trong USB lưu trữ đoạn clip trích xuất từ dữ liệu camera anh ninh của quán cà phê Ri C là vật chứng nên đưa vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đ Vũ chi phí điều trị thương tích 25.000.000đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền trên, có đơn đề nghị và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến. Đối với 01 ly thuỷ tinh của quán C1 mà bị cáo sử dụng đánh bị hại bị bể vỡ, hiện nay bà Hoàng Thị P là chủ quán cà phê Ri C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 95/CT – VKSKV2 ngày 12 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Lê Vĩnh K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134, định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng vẫn giữ nguyên Bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Vĩnh K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134, định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Vĩnh K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 năm đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị giải quyết theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố và kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sửa đổi bản thân trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, bản tường trình của bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở khẳng định: Vào ngày 19/11/2025 tại thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo bị cáo Lê Vĩnh K có hành vi dùng ly thuỷ tinh gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tích 20%. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Vĩnh K phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, bị cáo nhận thức rõ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án từ năm 2007, đã chấp hành xong toàn bộ các hình phạt của bản án và đã được xóa án tích, lần phạm tội này bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và có nguyên nhân là do được chị P nhờ giải quyết sự việc va chạm giao thông nên bị cáo mới phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn đang trực tiếp nuôi mẹ già bị tai biến nằm một chỗ được chính quyền địa phương xác nhận, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 khi lượng hình.

Về phần trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đ Vũ chi phí điều trị thương tích 25.000.000đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến. Đối với 01 ly thuỷ tinh của quán C1 mà bị cáo sử dụng đánh bị hại bị bể vỡ, hiện nay bà Hoàng Thị P là chủ quán cà phê Ri C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Đối với một số mảnh vỡ của ly thuỷ tinh bị bể không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp. Hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Lâm Đồng tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/5/2026.

Đối với 01 USB hiệu micro SD, dung lượng 02 GB, bên trong USB lưu trữ đoạn clip trích xuất từ dữ liệu camera anh ninh của quán C1 là vật chứng vụ án nên tuyên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn đang trực tiếp nuôi mẹ già bị tai biến nằm một chỗ được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo đã được xóa án tích từ lâu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Vĩnh K phải chịu án 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lê Vĩnh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Vĩnh K 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Vĩnh K cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. (Đã giải thích chế định chấp hành án treo).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) số mảnh vỡ thuỷ tinh bể. Hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Lâm Đồng tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/5/2026.

Tuyên tịch thu lưu hồ sơ vị án đối với 01 USB hiệu micro SD, dung lượng 02 GB, bên trong USB lưu trữ đoạn clip trích xuất từ dữ liệu camera anh ninh của quán C1.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Vĩnh K phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ