- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Hồng T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Hồng T và Trần Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2026/HS-PT Ngày: 30-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Công
Bà Trần Thị Hoà Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký viên Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn C, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 454/2025/TLPT-HS ngày 06/11/2025, đối với các bị cáo Phan Hồng T và Trần Văn T1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Phan Hồng T, sinh ngày 01/01/1956 tại tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau); Nơi cư trú: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu - nay là xã P, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Phan Văn M (đã chết) và bà Mai Thị H (đã chết); Có chồng là Trần Văn T1 (bị cáo trong cùng vụ án) và có 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: Trần Văn T1, sinh ngày 01/01/1954 tại tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau); Nơi cư trú: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu - nay là xã P, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Trần Văn K (đã chết) và bà Đỗ Thị N (đã chết); Có vợ là Phan Hồng T (bị cáo trong cùng vụ án) và có 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Huỳnh Anh T2, là Luật sư của Công ty L7 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
* Ngoài ra, trong vụ án còn có 69 người bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2010, Phan Hồng T bắt đầu làm chủ hụi, mục đích để hưởng hoa hồng ở những kỳ khui hụi. T mở hụi theo hình thức hụi tháng, mỗi tháng khui 01 kỳ (bỏ thăm hốt hụi). Trong quá trình làm chủ hụi, bị mất cân đối do hụi viên đóng hụi chết không đủ, phải choàng lấp hụi để giữ uy tín nên bị mất cân đối về tài chính. Để có tiền cho việc làm chủ hụi, T mở thêm các dây hụi mới rồi lấy tên khống tham gia chơi hụi để hốt hụi và mạo danh hụi viên hốt hụi, chiếm đoạt tiền đóng hụi của nhiều hụi viên để trả nợ vay, choàng lấp hụi.
- Hành vi hốt hụi khống: Khi mở các dây hụi mới, T mạo danh người khác để ghi tên vào danh sách tham gia chơi hụi, sau đó hốt các phần hụi khống này chiếm đoạt tiền đóng hụi của hụi viên.
- Hành vi mạo danh hốt hụi: Lợi dụng việc hụi viên không tham gia bỏ thâm nên không biết số tiền bỏ thâm, không biết hụi viên nào hốt hụi. T nói dối là có hụi viên bỏ thâm giá cao hơn nên được hốt hụi để chiếm đoạt tiền đóng hụi của hụi viên.
Đến ngày 01/4/2023 (ngày 11/02/2023 âm lịch), T tuyên bố vỡ hụi và bỏ trốn khỏi địa phương, chiếm đoạt tiền của hụi viên, cụ thể:
* Loại hụi 2.000.000đ/phần.
Dây 1: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 1), 27 phần, trong đó 21 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên hốt 23 phần, còn 01 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần, hụi viên La Thị T3 chưa hốt hụi và số tiền đóng hụi sống 40.170.000đ; không có hụi viên nợ hụi chết. T chiếm đoạt trong dây hụi này 40.170.000đ.
Dây 2: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 2), 27 phần, trong đó 21 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên hốt 23 phần, còn 01 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần, hụi viên La Thị T3 chưa hốt hụi và số tiền đóng hụi sống 40.040.000đ; không có hụi viên nợ hụi chết. T chiếm đoạt trong dây hụi này 40.040.000đ. 2
Dây 3: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 4), 27 phần, trong đó 22 hụi viên tham gia 25 phần và T tham gia 02 phần. Thắm hốt 02 phần tham gia, hụi viên đã hốt 23 phần, còn 02 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống là 79.680.000đ (Huỳnh Thị Đ, Nguyễn Thị T4 mỗi người 01 phần 39.840.000đ); không có hụi viên nợ hụi chết. Đối với hụi viên Cao Hồng C1 hốt kỳ 27 được 51.000.000đ, nhưng T chỉ giao 11.000.000đ, còn nợ 40.000.000đ. Như vậy, T chiếm đoạt trong dây hụi này 79.680.000đ.
* Loại hụi 5.000.000đ/phần:
Dây 4: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 1), 27 phần, trong đó 20 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên đã hốt 22 phần, còn 02 phần chưa được hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 196.280.000đ (Bùi Vũ P 01 phần 97.990.000đ, La Hữu L 01 phần 98.290.000đ), không có hụi viên nợ hụi chết. Như vậy, T chiếm đoạt trong dây hụi này 196.280.000đ.
Dây 5: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 2), 27 phần, trong đó 18 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên đã hốt 22 phần, còn 02 phần chưa được hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 196.060.000đ (Bùi Vũ P, Hồ Thị B mỗi người 01 phần 98.030.000đ), không có hụi viên nợ hụi chết. Sau khi vỡ hụi, T trả cho bà Hồ Thị B 50.500.000đ. Như vậy, T chiếm đoạt trong hụi này 196.060.000đ.
Dây 6: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 3), 27 phần, trong đó 21 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên đã hốt 21 phần, còn 03 phần chưa được hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 293.570.000đ (Nguyễn Văn H1 01 phần 98.750.000đ, Bùi Vũ P 01 phần 97.410.000đ, Lê Thị Trúc N1 01 phần 97.410.000đ), không có hụi viên nợ hụi chết. Như vậy, T chiếm đoạt trong dây hụi này 293.570.000đ.
Dây 7: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 4), 27 phần, trong đó 19 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên đã hốt 19 phần, còn 05 phần chưa được hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 04 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 488.120.000đ (Lê Hùng A, Bùi Vũ P 01 phần 97.000.000đ, Lê Thị Trúc N1 mỗi người 01 phần 97.000.000đ; Nguyễn Văn H1 02 phần 197.120.000đ), không có hụi viên nợ hụi chết. Như vậy, T chiếm đoạt trong dây hụi này 488.120.000đ.
Dây 8: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 5), 27 phần, trong đó 21 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần 3 tham gia, hụi viên hốt 22 phần, còn 02 phần chưa được hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 195.600.000đ (Bùi Vũ P 01 phần 96.850.000đ, Lê Hùng A 01 phần 98.750.000đ), không có hụi viên nợ hụi chết. Như vậy, T chiếm đoạt trong dây hụi này 195.600.000đ.
Dây 9: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 7), 27 phần, trong đó 21 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên hốt 23 phần, còn 01 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần, hụi viên La Minh C2 chưa hốt hụi và đóng hụi sống 99.950.000đ, không có hụi viên nợ hụi chết. Hụi viên Huỳnh Thị K1 hốt kỳ 27 được 127.000.000đ, T giao 27.000.000đ, còn nợ 100.000.000đ. Như vậy, T chiếm đoạt thành viên trong dây hụi này là 99.950.000đ.
Dây 10: Mở ngày 23/11/2020 (ngày 09/10/2020 âm lịch, dây 8), 27 phần, trong đó 21 hụi viên tham gia 24 phần và T tham gia 03 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên hốt 23 phần, còn 01 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần, hụi viên Phạm Thị H2 chưa hốt hụi và đóng hụi sống 95.650.000đ, không có hụi viên nợ hụi chết. Hụi viên Lê Thị D hốt kỳ 27 được 127.500.000đ, T giao 77.500.000đ, còn nợ 50.000.000đ. Sau khi vỡ hụi, T trả cho bà Phạm Thị H2 7.500.000đ. Như vậy, T chiếm đoạt trong dây hụi này 95.650.000đ.
Dây 11: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 1), 27 phần, trong đó 16 hụi viên tham gia 22 phần và T tham gia 05 phần. Thắm hốt 05 phần tham gia, hụi viên hốt 10 phần, còn 12 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 732.660.000đ (Lê Thị T5 02 phần 121.960.000đ, Phan Kim H3 02 phần 121.120.000đ, Lâm Tuyết N2 01 phần 63.500.000đ, Vũ Thị T6 01 phần 62.300.000đ, Châu Ngọc T 01 phần 60.980.000đ; Phạm Thị Mỹ T7, Phan Thị Á, Trần Việt H4, Lâm Văn B1, Phạm Thị L1 mỗi người 01 phần 60.560.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 400.000.000đ (Lê Thị T5 150.000.000đ; Nguyễn Văn V, Lê Thị M1, Trương Văn E và Trần Thị B2 mỗi người 50.000.000đ; Nguyễn Thị T8 100.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 282.660.000đ (732.660.000đ - 450.000.000đ).
Dây 12: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 2), 27 phần, trong đó 16 hụi viên tham gia 22 phần và T tham gia 05 phần. Thắm hốt 05 phần hụi tham gia, hụi viên hốt 07 phần, còn 15 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 05 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 922.370.000đ (Phan Kim H3 02 phần 122.440.000đ; Lâm Tuyết Nga 01 phần 63.550.000đ; Vũ Thị T6 01 phần 62.400.000đ; Châu Ngọc T 01 phần 61.500.000đ; Lê Thị T5, Phạm Thị Mỹ T7, Nguyễn Văn V, Phan Thị Á, Lê Thị M1, Phạm Thị Đ1, Trần Việt H4, Phạm Thị L1, Trần Ngọc B3 mỗi người 01 phần 61.220.000đ; Lê Thị D 01 phần 4 61.500.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 350.000.000đ ( Lê Thị T5 200.000.000đ; Trương Văn E, Trần Thị B2, Châu Ngọc T9 mỗi người 50.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 572.370.000đ (922.370.000đ - 350.000.000đ).
Dây 13: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/202 âm lịch, dây 3), 27 phần, trong đó 16 hụi viên tham gia 22 phần và T tham gia 05 phần. Thắm hốt 05 phần tham gia và mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên hốt 10 phần, còn 12 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 739.280.000đ (Phan Kim H3 02 phần 122.600.000đ, Lâm Tuyết N2 01 phần 63.800.000đ, Vũ Thị T6 01 phần 62.480.000đ; Lê Thị T5, Phạm Thị Mỹ T7, Phan Thị Á, Lê Thị M1, Lê Thị D, Phạm Thị Đ1, Trần Thị N3, Phạm Thị L1 mỗi người 01 phần 61.300.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 500.000.000đ (Lê Thị T5 200.000.000đ, Nguyễn Thị Ẩ 100.000.000đ; Nguyễn Văn V, Trương Văn E, Châu Ngọc T9, Trịnh Kim Y mỗi người 50.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 239.280.000đ (739.280.000đ - 500.000.000đ).
Dây 14: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 4), 27 phần, trong đó 18 hụi viên tham gia 23 phần và T tham gia 04 phần. Thắm hốt 04 phần tham gia, hụi viên hốt 06 phần, còn 17 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 07 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 1.042.460.000đ (Lê Thị T5 04 phần 247.960.000đ; Phan Kim H3 02 phần 122.060.000đ; Nguyễn Văn H1, Phạm Thị Mỹ T7, Phan Thị Á, Lê Thị M1, Lê Thị D, Nguyễn Văn L2, Trần Thị N3, Châu Mỹ V1, Châu Ngọc T9, Trần Văn N4 mỗi người 01 phần 61.030.000đ; Vũ Thị T6 01 phần 62.470.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 300.000.000đ ( Lê Thị T5, Nguyễn Văn V, Trần Bá T10, Huỳnh Văn C3, Trương Văn E, Trần Thị M2 mỗi người 50.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 742.460.000đ (1.042.460.000đ - 300.000.000đ).
Dây 15: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 5), 27 phần, trong đó 18 hụi viên tham gia 23 phần và T tham gia 04 phần, còn 16 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 06 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 977.130.000đ (Lê Thị T5 04 phần 244.480.000đ; Phan Kim H3 02 phần 121.800.000đ; Vũ Thị T6 01 phần 62.550.000đ; Nguyễn Văn H1, Phan Thị Á, Lê Thị M1, Nguyễn Văn L2, Trần Thị N3, Trần Bá T10, Huỳnh Văn C3, Phạm Thị H2 mỗi người 01 phần 60.900.000đ; Trần Văn N4 01 phần 61.100.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 350.000.000đ (Lê Thị T5, Lê Thị C4, Nguyễn Văn V, Trần Thị C5, Châu Văn V2, Trần Thị H5, Bùi Bé N5, mỗi người 50.000.000đ). 5
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 627.130.000đ (977.130.000đ - 350.000.000đ).
Dây 16: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 6), 27 phần, trong đó 18 hụi viên tham gia 23 phần và T tham gia 04 phần. Thắm hốt 04 phần tham gia, hụi viên hốt 08 phần, còn 15 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 05 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 915.360.000đ (Lê Thị T5 02 phần 121.820.000đ; Phạm Thị Mỹ T7 02 phần 121.800.000đ; Vũ Thị T6 01 phần 62.730.000đ; Phan Kim H3, Phan Thị Á, Lê Thị M1, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Văn L2, Huỳnh Thị K1, Lê Hùng A, Trần Bá T10, Trần Thị H6, Châu Văn V2, mỗi người 01 phần 60.900.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 400.000.000đ (Lê Thị T5 150.000.000đ, Nguyễn Văn V, Huỳnh Tấn L3, Trần Thị N3, Trần Thị H5, Lâm Thị E1, mỗi người 50.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 515.360.000đ (915.360.000đ - 400.000.000đ).
Dây 17: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 7), 27 phần, trong đó 19 hụi viên tham gia 23 phần và T tham gia 04 phần. Thắm hốt 04 phần tham gia, hụi viên hốt 07 phần, còn 16 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 06 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 972.820.000đ (Lê Thị T5 05 phần 303.950.000đ; Vũ Thị T6 01 phần 62.600.000đ; Phan Kim H3, Phạm Thị Mỹ T7, Phan Thị Á, Nguyễn Thị T4, Huỳnh Thị K1, Lê Hùng A, Trần Thị N6, Châu Văn V2, Nguyễn Ngọc B4, mỗi người 01 phần 60.760.000đ; La Hữu L 01 phần 59.400.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 350.000.000đ (Nguyễn Văn V, Trần Thị C5, Nguyễn Thị Bé N7, Lê Thị C4, Trương Thị Kim V3, Trần Thị H5, Châu Văn B5, mỗi người 50.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền thành viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 622.820.000đ (972.820.000đ - 350.000.000đ).
Dây 18: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 1), 28 phần, trong đó 19 hụi viên tham gia 27 phần và T tham gia 01 phần. Thắm hốt 01 phần tham gia, hụi viên hốt 13 phần, còn 14 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 03 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 360.100.000đ (La Thị T3 02 phần 51.320.000đ; Lâm Tuyết Nga 01 phần 26.500.000đ; Lê Thị Trúc N1 01 phần 25.880.000đ; Nguyễn Thị H7 01 phần 25.790.000đ; Lê Thị B6 01 phần 25.720.000đ; Trần Thị H8, Phạm Thị H2, Đỗ Thị B7, Lâm Văn B1, Trần Thị N3, Nguyễn Thị T4, Phan Trường G, mỗi người 01 phần 25.660.000đ; Trương Bích N8 01 phần 25.270.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 282.000.000đ (Lê Thị T5 154.000.000đ; Châu Ngọc T9 40.000.000đ; Trần Thị N9, Nguyễn Thị M3, Trần Thị D1, Huỳnh Thị Ngọc H9, mỗi người 22.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm 6 đoạt trong dây hụi này 78.100.000đ (360.100.000đ - 282.000.000đ).
Dây 19: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 2), 28 phần, trong đó 20 hụi viên tham gia 27 phần và T tham gia 01 phần. Thắm hốt 01 phần tham gia, hụi viên hốt 14 phần, còn 13 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 334.260.000đ (Lê Thị Trúc N1 01 phần 27.390.000.000đ; Lâm Tuyết Nga 01 phần 26.620.000đ; Nguyễn Văn T11 01 phần 25.820.000đ; Huỳnh Thị K1 01 phần 25.530.000đ; Lê Thị D mỗi người 01 phần 25.330.000 đồng; Lê Thị T5, Nguyễn Thị Hồng T12, La Thị T3, Đỗ Thị B7, Bùi Văn L4, La Hữu L, Nguyễn Ngọc B4, mỗi người 01 phần 25.470.000đ; Lê Thị B6 25.280.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 324.000.000đ (Lê Thị T5 154.000.000đ; Châu Ngọc T9 40.000.000đ; Phạm Thị H2, Hà Ngọc B8, Phạm Thanh N10, T, Châu Văn V2, mỗi người 22.000.000đ; Lê Mỹ P1 20.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm trong dây hụi này 32.260.000đ (334.260.000đ - 302.000.000đ).
Dây 20: Mở ngày 20/10/2021 (ngày 15/9/2021 âm lịch, dây 3), 28 phần, trong đó 22 hụi viên tham gia 27 phần và T tham gia 01 phần. Thắm hốt 01 phần tham gia, hụi viên hốt 14 phần, còn 13 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 02 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 328.050.000đ (Lâm Tuyết N2 01 phần 26.550.000đ; Huỳnh Thị K1 01 phần 25.290.000đ; Trần Thị H8, Nguyễn Thị Hồng T12, La Thị T3, Đỗ Thị B7, Lê Thị D, Bùi Văn L4, Trần Thị T13, Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Văn T14, Bùi Thị N11, Chung Thị Tú Q mỗi người 01 phần 25.110.000đ). Tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 284.000.000đ (Lê Thị T5 110.000.000đ; Phạm Thị H2, Phạm Thị Đ1, Hà Ngọc B8, Phạm Thanh N10, Nguyễn Văn H10, Bùi Thu T15, Trần Thúy H11 mỗi người 22.000.000đ; Châu Ngọc T9 20.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 22.050.000đ (328.050.000đ - 306.000.000đ).
Dây 21: Mở ngày 21/5/2022 (ngày 21/4/2022 âm lịch, dây 2), 26 phần, trong đó 20 hụi viên tham gia 22 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Trần Hữu N12) tham gia 01 phần. T hốt 02 phần tham gia và hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 07 phần, còn 15 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 551.670.000đ (Lê Thị T5 02 phần 68.940.000đ; Lê Thị Trúc N1 01 phần 34.570.000đ; Lê Hồng T16 01 phần 34.520.000đ; Trần Vũ S, Nguyễn Văn V, Lê Văn D2, Huỳnh Tấn L3, Bùi Vũ P, Trương Thị Hồng X, Phan Thị Á, Duy Thị B9, Phạm Thị H2, Phan Trường G, Lữ Huỳnh N13, Nguyễn Thị C6 mỗi người 01 phần 34.470.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 480.000.000đ (Trương Văn E, Lương Thị Thanh T17, Nguyễn Thị T8 (T), Trần Thị N3, mỗi người 80.000.000đ; Nguyễn Thị T8 (C) 160.000.000đ). 7
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 71.670.000đ (551.670.000đ - 480.000.000đ).
Dây 22: Mở ngày 21/5/2022 (ngày 21/4/2022 âm lịch, dây 3), 26 phần, trong đó 19 hụi viên tham gia 22 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Trần Hữu N12) tham gia 01 phần. T hốt 03 phần tham gia và hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 06 phần, còn 16 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 517.600.000đ (Lê Thị T5 03 phần 103.080.000đ; Lê Hồng T16 01 phần 34.620.000đ; Trương Văn E, Nguyễn Thị T8 (C), Lê Văn S1, Bùi Vũ P, Nguyễn Thị T8 (T), Nguyễn Văn H1, Trần Thị H5, Phan Thị Á, Lê Thị Trúc N1, Trần Thị T13 mỗi người 01 phần 34.360.000đ; Lâm Tuyết N2 01 phần 34.200.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 400.000.000đ (Nguyễn Văn V, Lương Thị Thanh T17, Trương Thị Hồng X, Trần Thị N3, Châu Ngọc T9 mỗi người 80.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 117.600.000đ (517.600.000đ - 400.000.000đ).
Dây 23: Mở ngày 21/5/2022 (ngày 21/4/2022 âm lịch, dây 4), 26 phần, trong đó 20 hụi viên tham gia 22 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Trần Hữu N12) tham gia 01 phần. Thắm hốt 03 phần tham gia, hụi viên hốt 05 phần, còn 18 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần và hốt 01 phần hụi khống, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 624.280.000đ (Lê Thị T5, Nguyễn Văn V mỗi người 02 phần 68.860.000đ; Lâm Tuyết N2 01 phần 36.230.000đ; Vũ Thị T6 01 phần 35.900.000đ; Bùi Vũ P 01 phần 35.700.000đ; Trương Văn E, Lê Văn S1, Lê Thị M1, Trần Thị D1, Phan Văn K2, Nguyễn Văn H1, Võ Thị L5, Trần Văn N4, Trần Thị N3, Nguyễn Văn L2, Huỳnh Kim H12 mỗi người 01 phần 34.430.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 240.000.000đ (Nguyễn Thị T8, Trần Thị H5, Lâm Thị E1 mỗi người 80.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 384.280.000đ (624.280.000đ - 240.000.000đ).
Dây 24: Mở ngày 21/5/2022 (ngày 21/4/2022 âm lịch, dây 5), 26 phần, trong đó 20 hụi viên tham gia 22 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Trần Hữu N12) tham gia 01 phần. T hốt 03 phần tham gia, hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 05 phần, còn 17 phần chưa hốt. Thắm mạo danh hụi viên hốt 01 phần, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 586.570.000đ (Lê Thị T5 03 phần 103.110.000đ; Nguyễn Văn V 02 phần 68.840.000đ; Phạm Thị Ú1 01 phần 35.950.000đ; Trần Văn N4 01 phần 34.470.000đ; Lê Thị M1, Trịnh Kim Y, Bùi Vũ P, Phan Văn K2, Nguyễn Văn H1, Võ Thị L5, Trần Thị H5, Lê Hùng A, Trần Thị N3, Nguyễn Văn P2 mỗi người 01 phần 34.420.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 320.000.000đ (Trương Văn E, Trần Mỹ H13, Nguyễn Thị C7, Bùi Bé N5, mỗi người 80.000.000đ). 8
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 266.570.000đ (586.570.000đ - 320.000.000đ).
Dây 25: Mở ngày 21/5/2022 (ngày 21/4/2022 âm lịch, dây 6), 26 phần, trong đó 19 hụi viên tham gia 22 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Trần Hữu N12) tham gia 01 phần. T hốt 03 phần tham gia và hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 06 phần, còn 16 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 549.400.000đ (Lê Thị T5 03 phần 102.930.000đ; Phạm Thị Ú1 01 phần 35.950.000đ; Trần Vũ S, Nguyễn Văn V, Lê Văn S1, Lê Thị M1, Trần Thị H6, Phan Văn K2, Nguyễn Văn H1, Võ Thị L5, Lê Hùng A, Huỳnh Thị K1, Nguyễn Thị K3, Nguyễn Văn P2 mỗi người 01 phần 34.210.000đ); tổng số tiền hụi viên nợ hụi chết 480.000.000đ (Trương Văn E, Nguyễn Văn V, Trịnh Kim Y, Trần Thị H5, Nguyễn Thị C7, Hà Ngọc B8 mỗi người 80.000.000đ).
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 69.400.000đ (549.400.000đ - 480.000.000đ).
Dây 26: Mở ngày 31/12/2022 (ngày 09/12/2022 âm lịch, dây 1), 27 phần, trong đó 17 hụi viên tham gia 21 phần, T tham gia 02 phần và lấy tên khống (Vũ N14 và H9) tham gia 04 phần. Thắm hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 01 phần, còn 20 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 134.440.000đ (Lê Thị T5 04 phần 26.800.000đ; Trần Thị H5 02 phần 13.400.000đ; Lê Quốc K4 01 phần 7.000.000đ; Trần Vũ S, Phan Văn N15, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị D3, Duy Thị B9, Nguyễn Thị Ẩ, Lê Hồng L6 mỗi người 01 phần 6.540.000đ; Lê Diệu T18, Lê Văn D2, Phan Văn Phương E2, Trần Việt H4, Võ Hồng X1, Huỳnh Thị K1, mỗi người 01 phần 6.700.000đ); hụi viên Trần Thị C5 nợ hụi chết 125.000.000đ.
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 9.440.000đ (134.440.000đ - 125.000.000đ).
Dây 27: Mở ngày 31/12/2022 (ngày 09/12/2022 âm lịch, dây 2), 27 phần, trong đó 18 hụi viên tham gia 21 phần, T tham gia 02 phần và lấy tên khống (Vũ N14, P3, 7 Thống, K3) tham gia 04 phần. Thắm hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 01 phần, còn 20 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 133.690.000đ (Lê Thị T5 03 phần 20.040.000đ; Huỳnh Tấn L3 01 phần 9.730.000đ; Lâm Tuyết N2 01 phần 7.000.000đ; Lê Thị D, Phan Văn N15, Trần Vũ S, Trần Thị H5, Lê Văn D2, Lâm Thị E1, Phạm Thị H2, Nguyễn Văn H1, Huỳnh Thị K1, Nguyễn Thị T8, Lê Hồng Đ2, Nguyễn Thị D3, Trần Ngọc B3, Trần Việt H4 mỗi người 01 phần 6.680.000đ; La Thị T3 01 phần 3.400.000đ); hụi viên Trần Thị H5 nợ hụi chết 125.000.000đ.
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 8.690.000đ (133.690.000đ - 125.000.000đ). 9
Dây 28: Mở ngày 31/12/2022 (ngày 09/12/2022 âm lịch, dây 3), 27 phần, trong đó 17 hụi viên tham gia 20 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Vũ N14, Vũ C8, P3, Cô H14) tham gia 04 phần. Thắm hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 01 phần, còn 19 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 126.220.000đ (Lê Thị T5, Trần Vũ S, Trần Thị H5, Lê Văn S1 mỗi người 02 phần 13.280.000đ; Nguyễn Văn H1 01 phần 6.700.000đ; Lê Thị D, Lâm Thị E1, Phạm Thị H2, Huỳnh Thị K1, Nguyễn Thị T8, Lê Hồng C9, Trần Thị D1, La Hữu L, Trần Việt H4, Trần Thị H6 mỗi người 01 phần 6.640.000đ); hụi viên Trần Thị M2 nợ hụi chết 125.000.000đ.
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 1.220.000đ (126.220.000đ - 125.000.000đ).
Dây 29: Mở ngày 31/12/2022 (ngày 09/12/2022 âm lịch, dây 4), 27 phần, trong đó 17 hụi viên tham gia 20 phần, T tham gia 03 phần, lấy tên khống (Vũ N14, C8, P3, Út M4) tham gia 04 phần. Thắm hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 01 phần, còn 19 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 125.620.000đ (Lê Thị T5 02 phần 13.280.000đ; Trần Vũ S, Trần Thị H5 mỗi người 02 phần 13.200.000đ; Nguyễn Văn H1 01 phần 6.700.000đ; Lê Thị D 01 phần 6.640.000đ; Lâm Thị E1, Nguyễn Văn V, Phạm Thị H2, Huỳnh Thị K1, Nguyễn Thị C7, Phạm Thị Mỹ T7, Trần Bá T10, Trần Thị M2, Lê Hồng C9, Nguyễn Thị K5, Nguyễn Văn B10 mỗi người 01 phần 6.600.000đ); hụi viên Trần Mỹ H13 nợ hụi chết 125.000.000đ.
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 620.000đ (125.620.000đ - 125.000.000đ).
Dây 30: Mở ngày 31/12/2022 (ngày 09/12/2022 âm lịch, dây 5), 27 phần, trong đó 19 hụi viên tham gia 21 phần, T tham gia 04 phần và lấy tên khống (P3, T14) tham gia 02 phần. Thắm hốt 01 phần hụi khống, hụi viên hốt 01 phần, còn 20 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 129.500.000đ (Lê Thị T5, Trần Vũ S mỗi người 02 phần 13.200.000đ; Lê Hùng A 01 phần 7.150.000đ; Nguyễn Văn H1 01 phần 6.700.000đ; Phan Thanh K6, Trần Thị H5, Lê Thị D, Lê Văn S1, Nguyễn Văn V, Phạm Thị H2, Nguyễn Thị C7, Phạm Thị Mỹ T7, Phạm Thị L1, Nguyễn Văn P2, Lâm Thị E1 mỗi người 01 phần 6.600.000đ; Lê Hồng T16 01 phần 6.650.000đ; Trịnh Kim Y 01 phần 3.400.000đ); hụi viên Trần Bá T10 nợ hụi chết 125.000.000đ.
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 4.500.000đ (129.500.000đ - 125.000.000đ).
Dây 31: Mở ngày 31/12/2022 (ngày 09/12/2022 âm lịch, dây 6), 27 phần, trong đó 18 hụi viên tham gia 20 phần, T tham gia 03 phần và lấy tên khống (Út Nghị 02 phần, P3, H3) tham gia 04 phần. Thắm hốt 01 phần hụi khống, hụi viên 10 hốt 01 phần, còn 19 phần chưa hốt, hụi viên chưa hốt hụi và tổng số tiền đóng hụi sống 126.630.000đ (Lê Thị T5, Trần Vũ S mỗi người 02 phần 13.280.000đ; Lê Hùng A 01 phần 7.150.000đ; Lê Thị D, Lê Văn S1, Nguyễn Văn V, Phạm Thị H2, Nguyễn Thị C7, Phạm Thị Mỹ T7, Trần Thị D4, Trần Thị N3, Lê Thanh Q1, Bùi Út B11, Nguyễn Thị T19, Lê Thu T20, Phạm Thị L1 mỗi người 01 phần 6.640.000đ; Lê Hồng T16 01 phần 6.600.000đ); hụi viên Trần Thị H5 nợ hụi chết 125.000.000đ. Sau khi vỡ hụi, T đã trả cho Nguyễn Thị T19 6.640.000đ.
Đối trừ tiền hụi viên đóng hụi sống với tiền hụi viên nợ hụi chết, T chiếm đoạt trong dây hụi này 1.630.000đ (126.630.000đ - 125.000.000đ).
Đối với dây hụi tháng 5.000.000đ/phần mở ngày 21/5/2022 (ngày 21/4/2022 âm lịch - dây 1), có 26 phần đã mở được 10 kỳ. Kết quả điều tra xác định T có lấy tên khống tham gia hụi và đã hốt hụi nhưng số tiền hụi viên nợ hụi chết nhiều hơn số tiền hụi viên đóng hụi sống nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xác định không chiếm đoạt tiền của hụi viên nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Như vậy, Phan Hồng T chiếm đoạt của hụi viên với tổng số tiền 6.395.230.000đ (12.655.230.000đ - 6.260.000.000đ).
Ngoài ra, quá trình điều tra còn chứng minh trong khoảng thời gian từ tháng 7/2020 đến tháng 3/2023, Phan Hồng T và Trần Văn T1 vay tiền của nhiều người sử dụng cá nhân, không trả rồi bỏ trốn khỏi nơi cư trú, cụ thể:
(1) Phan Hồng T vay của bà Lâm Thị Ỵ 1.000.000.000đ, lãi suất 02%/tháng. Năm 2020, bà Ỵ chết, T và ông Lâm Văn B1 là em ruột bà Ỵ thỏa thuận T trả số tiền trên cho ông B1. Ngày 11/6/2020 (ngày 20/4/2020 âm lịch), T lập biên nhận với nội dung: Có nợ ông B1 1.000.000.000đ. Ngày 12/7/2020 (ngày 22/6/2020 âm lịch), T trả được 550.000.000đ còn nợ ông B1 450.000.000đ.
(2) Ngày 31/5/2021, Phan Hồng T vay của bà Lâm Tuyết N2 500.000.000đ và ngày 30/6/2021 vay 1.300.000.000đ, lãi suất đều 02%/tháng. Bà N2 chuyển tiền vào tài khoản số 106870789224 của Trần Văn T1 (chồng Phan Hồng T) mở tại Ngân hàng V4, được Trần Văn T1 rút tiền giao cho T. Số tiền này, T cho người khác vay lại (nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch), T trả lãi hằng tháng cho bà N2 bằng cách trừ vào tiền đóng hụi của bà N2; còn nợ 1.800.000.000đ.
(3) Ngày 13/11/2022 (ngày 20/10/2022 âm lịch), Phan Hồng T và Trần Văn T1 vay của ông Lê Văn D2 100.000.000đ, lãi suất 05%/tháng, T trả lãi được 03 lần bằng cách trừ vào tiền đóng hụi. Đến ngày 18/12/2022 (ngày 25/11/2022 âm lịch), T và T1 tiếp tục vay 100.000.000đ, lãi suất 05%/tháng, T trả lãi được 02 lần bằng cách trừ vào tiền đóng hụi; tổng số tiền vay 200.000.000đ.
(4) Ngày 02/02/2023 (ngày 12/01/2023 âm lịch), Phan Hồng T và Trần Văn 11 T1 vay của ông Lê Văn S1 số tiền 200.000.000đ, lãi suất 05%/tháng, T chưa trả lãi cho ông D2.
Ngày 02/3/2023 (ngày 11/02/2023 âm lịch), T tuyên bố vỡ hụi rồi cùng Trần Văn T1 bỏ trốn khỏi địa phương, thay đổi số điện thoại, cắt liên lạc với người thân, hụi viên và những người đã cho vợ chồng T vay tiền. T và T1 đến lưu trú tại Căn hộ số 20 Tầng A chung cư M, địa chỉ: đường L, Tổ A, Khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nhưng không trình báo, không đăng ký tạm trú. Đến ngày 22/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C) mới truy tìm được Phan Hồng T và Trần Văn T1 tại địa chỉ trên.
Như vậy, sau khi vay tiền của người khác, Phan Hồng T và Trần Văn T1 đã cùng nhau bỏ trốn để chiếm đoạt của ông Lê Văn S1, ông Lê Văn D2, bà Lâm Tuyết N2 tổng số tiền là 2.200.000.000đ; Phan Hồng T còn chiếm đoạt của ông Lâm Văn B1 số tiền 450.000.000đ.
Cáo trạng số 37/CT-VKS-P1 ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố: Bị cáo Phan Hồng Thắm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự ; bị cáo Trần Văn T1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
1. Trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Hồng T. Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s, o khoản 1 Điều 51; khoản 1 và 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T1.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Hồng T phạm tội “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Phan Hồng T, bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tuyên phạt:
- Bị cáo Phan Hồng T 13 (mười ba) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 12 (mười hai) năm tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo Phan Hồng T phải chấp hành là 25 (hai mươi lăm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 01/4/2024.
- Bị cáo Trần Văn T1 07 (bảy) năm tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm 12 đoạt tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường, các quy định về thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 07/10/2025 và ngày 10/10/2025, các bị cáo Phan Hồng T và Trần Văn T1 lần lượt kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm: Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo T, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo T và bị cáo T1 trình bày: Sau khi xét xử sơ thẩm, có 35 người bị hại (gồm 33 hụi viên, 02 người cho vay là ông B1, bà N2) có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo T, T1 làm trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt hình thức.
2. Về yêu cầu kháng cáo của các bị cáo T, T1:
- Về tội danh: Kết quả điều tra đã thể hiện bị cáo T đã mở tổng cộng 31 dây hụi, sử dụng thủ đoạn gian dối là hốt hụi khống, mạo danh người khác để hốt hụi, chiếm đoạt tổng cộng 6.395.230.000 đồng của những người bị hại. Ngoài ra, bị cáo T và bị cáo T1 đã vay của các ông bà Lê Văn S1, Lê Văn D2, Lâm Tuyết N2 tổng cộng 2.200.000.000 đồng; riêng bị cáo T vay của ông Lâm Văn B1 450.000.000 đồng rồi cùng nhau bỏ trốn. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xét xử bị cáo T và bị cáo T1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo và tuyên phạt bị cáo T tổng cộng 25 năm tù cho cả 02 tội, tuyên phạt bị cáo T1 07 năm tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo T đã đủ 70 tuổi; cả 02 bị cáo được tổng cộng 35 người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, T1; sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho 02 bị cáo.
Luật sư bào chữa chỉ định cho các bị cáo T, T1 phát biểu:
- Về tội danh: Luật sư không tranh luận. 13
- Về hình phạt: Bị cáo T thì tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã đủ 70 tuổi; bị cáo phạm tội xuất phát từ nguyên nhân do có nhiều hụi viên không đóng hụi chết, để giữ uy tín và cân đối tài chính nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo T1 phạm tội lần đầu với vai trò giúp sức; có 35 người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo T, T1 rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Hồng T và Trần Văn T1 làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của các bị cáo T, T1, nhận thấy:
Về tội danh:
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo T, T1 tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm; phù hợp với lời khai của những người bị hại, người liên quan; đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng năm 2010, Phan Hồng T bắt đầu làm chủ hụi, để hưởng tiền hoa hồng trong những lần khui hụi. Trong quá trình hoạt động, do các hụi viên đóng hụi chết không đầy đủ, bị cáo phải choàng gánh nên mất cân đối về tài chính. Để giữ uy tín, bị cáo T tiếp tục mở 03 dây hụi loại 2.000.000 đồng/phần và 28 dây hụi loại 5.000.000 đồng/phần, sau đó dùng các thủ đoạn như ghi tên hụi viên khống để hốt hụi, lợi dụng tên các hụi viên không bỏ thăm (không hốt hụi) để bỏ thăm cao hơn để hốt hụi; chiếm đoạt của 65 người bị hại tổng cộng 6.395.230.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo T và bị cáo T1 đã vay của các ông bà Lê Văn S1, Lê Văn D2, Lâm Tuyết N2 tổng cộng 2.200.000.000 đồng; riêng bị cáo T vay của ông Lâm Văn B1 450.000.000 đồng rồi thay đổi số điện thoại, cắt liên lạc với người thân, người bị hại, cùng nhau bỏ trốn khỏi địa phương đến cư trú tại Chung cư M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang không khai báo, đăng ký tạm trú.
Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc thực hiện các hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội; đồng thời các bị cáo T, T1 cũng ý thức được rằng thông qua việc vay tài sản và sau khi nhận được tài sản, cắt liên lạc với người cho vay để bỏ trốn là phạm tội. Nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài, choàng gánh các khoản lỗ nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. 14
Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Với các hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, với tình tiết định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xét xử các bị cáo T, T1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo, cụ thể:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nộp 65.000.000 đồng khắc phục hậu quả, phạm tội xuất phát từ nguyên nhân các hụi viên không đóng hoặc đóng hụi chết không đầy đủ, một số người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Giống như bị cáo T, bị cáo T1 cũng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thụ động theo chỉ dẫn của bị cáo T; bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên, nhận thấy mức án mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo T, T1 là có căn cứ, phù hợp.
Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo T sinh ngày 01/01/1956, tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã đủ 70 tuổi nên cần thiết áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm, có 35 người bị hại (gồm 33 hụi viên, 02 người cho vay là ông B1, bà N2) có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T và T1 nên tiếp tục áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho 02 bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng của các bị cáo T, T1; đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà và đề nghị của Luật sư bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ để chấp nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm theo nhận định trên đây.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo T, T1 không phải chịu.
15
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Hồng T và Trần Văn T1.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
[1] Tuyên bố:
Bị cáo Phan Hồng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
[2] Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 4 Điều 175; các điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt: Bị cáo Phan Hồng T 11 (mười một) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 09 (chín) năm tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phan Hồng T phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/4/2024.
[3] Áp dụng khoản 4 Điều 175; các điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T1 05 (năm) năm tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phan Hồng T, Trần Văn T1 không phải chịu. 16
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện CT và KSXXPT tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - THADS tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam số 02 - Cà Mau; - Các bị cáo; - Lưu HSVA, HCTP (NTCL). 17 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Khoa |