- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Xuân H. phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 97/2026/HS-PT Ngày: 11/3/2026 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Hiếu
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Chương
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 11/3/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2026/TLPT-HS ngày 19/01/2026 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H. đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 59/2026/QĐXXPT-HS ngày 23/02/2026 đối với:
- Bị cáo có kháng cáo:
Vũ Xuân H., sinh năm 1958; Đăng ký thường trú: phường A, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: địa chỉ B, phường C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Vũ Văn T. (đã chết) và bà Lê Thị Đ.; Vợ là Nguyễn Thị T. và có 03 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/9/2021, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội (nay là Toà án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội) xử phạt 03 tháng 20 ngày tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Bị bắt ngày 06/3/2025; Tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị hại không kháng cáo:
1. Chị Ngô Thị T., sinh năm 1986; Nơi thường trú và nơi ở: địa chỉ E, phường F, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
2. Anh Phạm Đức T., sinh năm 1994; Nơi thường trú: địa chỉ G, Thành phố Hải Phòng. Nơi ở: địa chỉ H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Xuân H. sinh sống và làm nghề kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái, mua bán nhà đất tại địa chỉ B từ năm 2013. Đầu năm 2024, Hiền tự ý đổ bê tông tại khu vực mép vỉa hè đối diện nhà Hiền và địa điểm D (địa chỉ: địa chỉ D, phường C, Thành phố Hà Nội) để tạo dốc từ mặt đường lên vỉa hè, sau đó Hiền treo biển "nhận trông giữ ô tô xe máy ngày và đêm" kèm theo số điện thoại liên hệ treo trên thân cây ở khu vực này và thực hiện thu tiền trông giữ xe không có giấy phép. Khi xe ô tô dừng đỗ vào khu vực vỉa hè, Hiền yêu cầu chủ xe phải trả tiền gửi xe, nhiều chủ xe không đồng ý nên Hiền khóa bánh xe ô tô của chủ xe, uy hiếp tinh thần đối với chủ xe buộc chủ xe phải trả tiền thì Hiền mới mở khóa bánh xe. Bằng thủ đoạn trên, Vũ Xuân H. đã thực hiện cưỡng đoạt tài sản của các chủ xe ô tô dừng đỗ tại khu vực vỉa hè đối diện địa điểm D, cụ thể như sau:
Vào khoảng 13h00' ngày 06/3/2025, anh Phạm Đức T. điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux SA, màu trắng, BKS: 17B-XXX.78 đi vào phố K. Khi đến khu vực địa điểm D, anh T. đỗ xe tại vỉa hè đối diện cổng chính địa điểm D, có bật đèn cảnh báo rồi đi giải quyết việc cá nhân. Khoảng 05 phút sau, Hiền từ trong nhà nhìn thấy chiếc xe ô tô của anh T. đỗ tại vị trí Hiền treo biển nhận trông giữ xe. Lúc này, do không thấy anh T. liên hệ với Hiền để gửi xe nên Hiền sử dụng 01 chiếc khóa dây (loại khóa mã số, bên trong là dây cáp, bên ngoài bọc nhựa) khóa vào la-zăng bánh trước bên trái chiếc xe ô tô của anh T.
Khoảng 40 phút sau, anh T. ra lấy xe để đi thì phát hiện bị khóa bánh xe, anh T. thấy trên thân cây có treo biển “nhận trông giữ ô tô, xe máy ngày đêm ĐT: 0975XXXX78” nên đã gọi điện thoại vào số điện thoại trên. Ngay lúc đó Hiền đi từ trong nhà ra yêu cầu anh T. phải trả cho Hiền số tiền 50.000 đồng là tiền trông xe ô tô cho anh T. Tuy nhiên, anh T. không đồng ý và nhiều lần yêu cầu Hiền mở khóa xe vì cho rằng lúc anh T. đỗ xe không có ai đến nhận là người trông xe. Do Hiền cương quyết không mở mà luôn buộc anh T. phải trả tiền gửi xe thì mới đồng ý mở khóa bánh xe nên hai bên cãi nhau. Thấy hành vi của Hiền có dấu hiệu tội phạm cưỡng đoạt tài sản nên anh T. đã trình báo vụ việc đến Công an phường C.
Sau khi nhận được tin báo, tổ công tác Công an phường C đã đến hiện trường và giải thích cho Hiền biết việc tự ý trông giữ xe ô tô tại khu vực này không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép là vi phạm pháp luật, đồng thời yêu cầu Hiền mở khóa bánh xe ô tô cho anh T. nhưng Hiền vẫn không mở khóa bánh xe và tiếp tục yêu cầu anh T. phải trả tiền 100.000 đồng thì mới mở khoá. Tổ công tác tiếp tục giải thích việc làm của Hiền là vi phạm pháp luật, tuy nhiên Hiền vẫn không mở và buộc anh T. phải trả tiền thì mới mở khóa bánh xe. Do đã nhắc nhở nhiều lần, Hiền vẫn cương quyết khóa bánh xe ô tô nhằm đòi tiền anh T. nên Cơ quan công an đã mời anh T. và Hiền về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan công an, anh T. và Hiền trình bày sự việc như trên.
Quá trình rà soát xác minh, ngoài vụ việc trên, Cơ quan điều tra còn nhận được đơn của chị Ngô Thị T. (Sinh năm: 1986; Nơi thường trú: địa chỉ I, Thành phố Hà Nội) tố giác bị Vũ Xuân H. có hành vi cưỡng đoạt tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản, cụ thể:
Khoảng 10h55' ngày 26/01/2025, chị T. điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil màu đỏ, BKS: 30G-XXX.34 đi có việc và đỗ xe ô tô trên vỉa hè trước cổng địa điểm D. Khi đỗ xe chị T. không thấy có ai đến thông báo về việc nhận trông giữ xe ô tô. Sau đó, Hiền đi ra khu vực đường K thấy chiếc xe ô tô của chị T. đỗ tại khu vực mà Hiền tự nhận trông giữ xe ô tô, Hiền đã lấy 01 khóa dây (loại khóa bên ngoài bọc nhựa, trong lõi thép) khóa la-zăng bánh xe trước bên trái của xe ô tô của chị T.
Khoảng 15 phút sau, chị T. ra lấy xe thì thấy Hiền đang đứng trước đầu xe của chị T. và yêu cầu nộp 50.000 đồng, chị T. hiểu là tiền trông giữ xe nên nói với Hiền “vâng thế chú cho cháu xin cái vé trông xe” nhưng Hiền nói “không có vé thì 50.000 đồng còn cậu thích lấy vé thì 100.000 đồng”. Hiền đi vào nhà địa chỉ B cầm một tập giấy đến chỗ chị T. và là vé xe có dấu đỏ, Hiền có quyền thu tiền trông xe, nếu nộp tiền thì sẽ ghi vé và mở khóa bánh xe cho chị T. Tuy nhiên, chị T. không đồng ý trả tiền trước cho Hiền mà yêu cầu Hiền đưa vé trông xe cho mình trước thì mới trả tiền.
Trong quá trình tranh cãi, chị T. đã mở cửa phía trước bên trái xe ô tô ngồi vào trong xe sau đó sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu xanh quay video lại vụ việc. Thấy vậy, Hiền đã chửi bới chị T., dùng tay trái giật chiếc điện thoại mà chị T. đang dùng để quay video đập chiếc điện thoại xuống đường làm chiếc điện thoại hư hỏng. Chị T. hô hoán nhưng Hiền tiếp tục chửi bởi, giơ tay về phía mặt chị T. đe doạ định đấm chị T. nhưng chị T. tránh được. Khoảng vài phút sau, Vũ Xuân P. (con trai Hiền) từ trong nhà ra can ngăn Hiền và chị T. nhưng không được thì Phát đi lại vào nhà. Do đang bận công việc và thấy Hiền có hành vi uy hiếp tinh thần, giật và đập chiếc điện thoại của chị T., cương quyết không mở khóa bánh xe ô tô nếu không trả tiền cho Hiền nên chị T. phải đưa số tiền 100.000 đồng. Do bận công việc nên ngày 08/3/2025, chị T. đã đến Cơ quan công an tố giác sự việc.
Quá trình điều tra, Hiền khai nhận có việc khóa bánh xe của anh T. và chị T. và yêu cầu đưa tiền. Tuy nhiên Hiền không thừa nhận đã giật chiếc điện thoại của chị T. và đập xuống đường làm hư hỏng điện thoại. Do chị T. sử dụng điện thoại để quay video vụ việc cãi nhau với Hiền mà không được sự đồng ý của Hiền nên Hiền đã dùng tay gạt làm chiếc điện thoại bị rơi xuống đường.
Tại Cơ quan điều tra, người chứng kiến ông Nguyễn Huy C. và ông Nguyễn An G. đều khai: Trong quá trình chị T. và Hiền đang cãi nhau thì chị T. có sử dụng điện thoại quay video thì Hiền có hành vi đập điện thoại của chị T. xuống đất gây nứt vỡ. Lời khai của người chứng kiến phù hợp với lời khai của chị Ngô Thị T. và các đoạn video chị T. cung cấp.
* Tài liệu, đồ vật tạm giữ:
- Thu giữ của Vũ Xuân H.: 01 khóa dây; 01 biển bạt có nội dung "nhận trông giữ xe ô tô xe máy ngày và đêm ĐT: 0975XXXX78"
- Thu giữ của chị Ngô Thị T.: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu xanh đã bị vỡ hỏng phần mặt lưng.
- Thu giữ của của anh Trần Đình S. 02 đoạn video ghi nhận anh T. cãi nhau với Hiền.
- Tạm giữ, trích xuất 06 đoạn video từ điện thoại của chị T.
* Tại bản Kết luận định giá tài sán số 29 ngày 04/4/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Thanh Xuân (cũ) kết luận: “Phần hư hỏng của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, dung lượng 256GB, số IMEI1: 3561XXXXXXXX417, IMBI2: 3561XXXXXXXX637 (đã qua sử dụng) có giá trị là 7.500.000 đồng”.
Ngày 26/6/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội Quyết định trưng cầu giám định số 27873 về việc giám định 06 đoạn video mà chị Ngô thị Thúy cung cấp. Tại bản Kết luận giám định số 6403 ngày 26/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định”.
Tiến hành làm việc với UBND phường C và UBND phường C: Xác định không đơn vị nào không cấp giấy phép trông giữ xe ở khu vực đường K cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào và cũng như không tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép thành lập bãi trông giữ xe của Vũ Xuân H.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhận được Công văn số 117 ngày 10/3/2025 của UBND phường C và “Đơn kiến nghị” của đại diện Tổ dân phố số 1 khu dân cư K thể hiện: “Vũ Xuân H. đã có hành vi tự ý chiếm dụng vỉa hè để tố chức trông giữ xe trái phép trước cửa và đối diện địa điểm D. Hiền đã được chính quyền địa phương và Tiểu ban quản lý di tích địa điểm D tuyên truyền, vận động, nhắc nhở nhưng không tuân thủ và thường xuyên gây gổ, chửi bới dẫn đến mất an ninh trật tự tại khu vực, gây bức xúc trong cộng đồng dân cư; Thường xuyên có hành vi chửi bới, đe dọa và thu tiền trông giữ xe sai quy định với người dân khi có trường hợp người dân dừng, đỗ xe tại vị trí trước và đối diện địa điểm D làm mất an ninh trật tự trên địa bàn. Để tránh gây bức xúc trong dư luận và đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, UBND phường C và Tổ dân phố đề nghị Cơ quan điều tra xem xét xử lý nghiêm theo đúng pháp luật đối với Vũ Xuân H.”.
Đối với Vũ Xuân P.: Phát khai nhận không tham gia giúp sức cho Hiền trong việc trông giữ xe ô tô. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định Vũ Xuân P. có vai trò đồng phạm với Vũ Xuân H. về hành vi Cưỡng đoạt tài sản nêu trên nên Cơ quan điều tra không đề nghị hình thức xử lý đối với Phát.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh lá cây, dung lượng 256GB tạm giữ của chị Ngô Thị T. để giám định. Ngày 16/9/2025, Cơ quan CSĐT
- Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho chị T.
Về dân sự: Quá trình điều tra, gia đình Hiền đã tự nguyện giao nộp số tiến 7.600.000 đồng cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả phần hư hỏng chiếc điện thoại của chị Ngô Thị T.. Các bị hại là anh Phạm Đức T. yêu cầu Hiền bồi thường 5.000.000 đồng vì làm ảnh hưởng đến công việc, thời gian của anh T.; chị Ngô Thị T. yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tương đương với chiếc điện thoại do Hiền đã đập vỡ và hoàn trả số tiền 100.000 đồng Hiền đã chiếm đoạt.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2025/HSST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội: Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân H. phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H. 36 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2025.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Xuân H. có kháng cáo đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H. về hình thức.
Về tội danh và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H. từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Vũ Xuân H. phải chấp hành hình phạt chung từ 27 tháng tù 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Vũ Xuân H. có đơn kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm với lý do sức khỏe không đảm bảo và yêu cầu có Trợ giúp viên pháp lý. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã được kiểm tra y tế, đảm bảo sức khỏe để tham gia phiên tòa. Bị cáo không thuộc trường hợp phải có Trợ giúp viên pháp lý.
Bị cáo đề nghị thay đổi Hội đồng xét xử nhưng không có căn cứ chính đáng nên không được chấp nhận.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người chứng kiến; căn cứ các vật chứng thu giữ, các đoạn video gửi giám định, các kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Vũ Xuân H. không được cấp giấy phép trông giữ xe ô tô tại khu vực trước và đối diện địa điểm D tại địa chỉ địa chỉ D, phường C, Thành phố Hà Nội. Bị cáo đã tự ý treo biển trông giữ xe ô tô, tự ý dùng khoá dây khoá bánh xe ô tô của chủ xe nhằm chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Vào ngày 16/01/2025, Vũ Xuân H. đã dùng khoá dây khoá bánh xe ô tô của chị Ngô Thị T. và dùng lời lẽ uy hiếp yêu cầu chị T. phải trả 100.000 đồng. Trong quá trình tranh cãi với chị T., Vũ Xuân H. đã giật chiếc đoại thoại Iphone 13 promax của chị T. đập xuống đường làm chiếc điện thoại hư hỏng với trị giá phần hư hỏng là 7.500.000 đồng. Bằng thủ đoạn tương tự, ngày 06/3/2025, Vũ Xuân H. tiếp tục khoá bánh xe ô tô của anh Phạm Đức T. và yêu cầu anh T. phải trả 50.000 đồng.
Bị cáo đã được chính quyền địa phương và Tiểu ban quản lý di tích địa điểm D tuyên truyền, vận động, nhắc nhở nhưng không tuân thủ và thường xuyên gây gổ, chửi bới dẫn đến mất an ninh trật tự tại khu vực, gây bức xúc trong cộng đồng dân cư. Thường xuyên có hành vi chửi bới, đe dọa và thu tiền trông giữ xe sai quy định với người dân khi có trường hợp người dân dừng, đỗ xe tại vị trí trước và đối diện địa điểm D làm mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Hành vi của bị cáo Vũ Xuân H. đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” theo điểm đ khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2025/HSST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội đã tuyên bố bị cáo Vũ Xuân H. phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt
Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân và vai trò của bị cáo; Sau khi xem xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, khiến dư luận bức xúc. Bị cáo cưỡng đoạt tài sản của 02 bị hại trong 02 ngày nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 03 tháng 20 ngày tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chiếm đoạt số tiền 150.000 đồng của 02 bị hại là không lớn. Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm bị cáo đã khai báo thành khẩn; gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp 7.600.000 đồng khắc phục thiệt hại cho chị Ngô Thị T.. Bị cáo sinh năm 1958, là người cao tuổi.
Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù của tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của tội.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo là người cao tuổi và được giảm hình phạt nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội về hình phạt, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân H. phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H. 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Vũ Xuân H. phải chấp hành hình phạt chung là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2025.
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vũ Xuân H. không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - CQCSĐT thành phố Hà Nội; - Trại Tạm giam số 2; - VKSND khu vực 2 – Hà Nội; - TAND khu vực 2 – Hà Nội; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Hiếu |