- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đinh Thị H ly hôn với ông Phạm Thanh L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đinh Thị H. Chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Phạm Thanh L. Do chị H và anh L không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2026/HNGĐ-ST Ngày 27/3/2026 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Ngọc Sơn.
2. Bà Phan Thị Cẩm Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quí – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Anh Phạm Thanh L, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Chị H có yêu cầu xét xử mặt, anh L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày:
Năm 2001 chị và anh L kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là xã M, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/12/2001. Việc kết hôn và đăng ký kết hôn là do chị và anh L tự nguyện.
Chị và anh L có 02 con chung Phạm Phi Y, sinh ngày 04/9/2002 và Phạm Thanh T, sinh ngày 19/10/2009.
Năm 2020 chị và anh L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, chị làm gì anh L cũng không hài lòng, cuộc sống không hạnh phúc, anh L thường xuyên đánh đập chị vô cớ và xua đuổi chị, khoảng hơn 05 năm nay chị và anh L không còn sống chung.
Khi chị và anh L không còn sống chung thì cha mẹ hai bên đều biết, có hàn gắn cho chị và anh L nhưng chị không đồng ý. Chị và anh L cũng không có thiện chí hàn gắn với nhau. Từ khi chị anh L không còn sống chung đến nay con chung do chị trực tiếp nuôi, anh L không tới lui thăm con, anh L không cấp dưỡng nuôi con chung.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị có các yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh L. Sau khi ly hôn chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng cho chị.
- Về con chung: Hiện chị đang bán tại căn tin của trường học, có thu nhập ổn định, chị có nhà ở ổn định nên chị đủ điều kiện nuôi con chung Phạm Thanh T, sinh ngày 19/10/2009, chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Do con chung Phạm Phi Y, sinh ngày 04/9/2022 đã trưởng thành, có gia đình riêng nên chị không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 53, 56; Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Phạm Thanh L cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
- Chị Đinh Thị H có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh L các văn bản tố tụng nhưng anh L đều không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L.
Về hôn nhân: Năm 2001 chị H và anh L tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là xã M, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/12/2001.Việc kết hôn và đăng ký kết hôn là do các bên tự nguyện. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị H và anh L là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ
Chị H cho rằng: Năm 2020 chị và anh L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, chị làm gì anh L cũng không hài lòng, cuộc sống không hạnh phúc, anh L thường xuyên đánh đập chị vô cớ và xua đuổi chị, khoảng hơn 05 năm nay chị và anh L không còn sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định của Tòa án nhằm tạo điều kiện để chị H và anh L hòa giải với nhau nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị H và anh L không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
Về con chung: Do con chung Phạm Phi Y đã trưởng thành, có gia đình riêng, chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Phạm Thanh T, sinh ngày 19/10/2009. Xét thấy, từ khi chị H và anh L không còn sống chung đến nay 02 con chung do chị H trực tiếp nuôi, anh L không tới lui thăm con chung, không cấp dưỡng nuôi con chung, hiện con chung đã ổn định cuộc sống, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Tại biên bản lấy ý kiến, con chung Phạm Thanh T trình bày có nguyện vọng sống cùng với chị H. Lẽ đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp. Do chị H không yêu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị H có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Do chị H trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Do chị H trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đinh Thị H. Chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Phạm Thanh L. Do chị H và anh L không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
2. Về con chung: Do con chung Phạm Phi Y đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Chị H được trực tiếp nuôi con chung Phạm Thanh T, sinh ngày 19/10/2009. Do chị H không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Thị H phải nộp 300.000 đồng ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo biên lai thu số của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long và đã nộp xong.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 9-Vĩnh Long; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - UBND xã Mỏ Cày, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu (hồ sơ, Văn phòng). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân |