- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Khánh V, Lê Đăng N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Khánh V được ly hôn với anh Lê Đăng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2026/HNGĐ-ST Ngày: 26/02/2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đăng Thiện
2. Ông Trịnh Trung Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 207/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2026/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Khánh V, sinh ngày: 24/04/1993; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã S, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ hiện nay: Đường L, thôn C, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Đăng N, sinh ngày: 10/10/1994; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn N, xã S, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn là chị Phạm Thị Khánh V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Đăng N qua việc tìm hiểu, lấy nhau là do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T (nay là xã S), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 12/7/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 04 năm, sau đó thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không có hạnh phúc, nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp, luôn bất đồng về quan điểm, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm để vợ chồng chung sống nhưng không có kết quả, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến tháng 03/2025 thì vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Phạm Thị Khánh V xác định vợ chồng có 01 con chung, là cháu Lê Đăng K, sinh ngày 24/10/2018. Từ khi vợ chồng ly thân thì cháu Đăng K ở với anh N. Trong đơn khởi kiện chị V trình bày nguyện vọng là xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa hôm nay, chị V có ý kiến: Nay cháu K có thể hiện nguyện vọng muốn được ở với bố (anh N), chị tôn trọng nguyện vọng của con, nên chị đồng ý đề nghị Tòa giải quyết cho anh N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị không phải cấp dưỡng do đang gặp khó khăn về kinh tế. Sau này khi có điều kiện chị sẽ tự nguyện hỗ trợ nuôi con.
Về tài sản và công nợ: Chị Phạm Thị Khánh V xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Đăng N đã được Tòa án triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.
Tại Biên bản xác minh lập ngày 06/12/2025, đại diện UBND xã S cho biết:
Chị Phạm Thị Khánh V và anh Lê Đăng N có quan hệ là vợ chồng. Anh chị có hộ khẩu thường trú tại: Thôn N, xã S, tỉnh Thanh Hóa. Chị V và anh N đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T (nay là xã S) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 12/7/2018. Qúa trình chung sống vợ chồng chị V và anh N có 01 con chung là cháu Lê Đăng K, sinh ngày 24/10/2018. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.
Tại Biên bản xác minh lập ngày 02/12/2025, đại diện Công an xã S cho biết:
Anh Lê Đăng N, sinh năm 1994, có vợ là chị Phạm Thị Khánh V, anh chị có hộ khẩu thường trú tại: Thôn N, xã S, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay anh N đang có mặt tại địa phương, anh làm nghề sơn nước, sáng đi chiều về. Anh N và chị V hiện nay đã sống ly thân nhau.
Tại Biên bản làm việc lập ngày 28/01/2026, bố đẻ anh Lê Đăng Nghĩa L ông Lê Đăng B cho biết:
Chị Phạm Thị Khánh V và anh Lê Đăng N có quan hệ là vợ chồng, anh chị kết hôn vào năm 2018. Sau khi lấy nhau thì anh chị sống cùng gia đình ông tại thôn N, xã S được gần 02 năm, sau đó ra ở riêng, tình cảm hòa thuận, bình thường. Đến đầu năm 2025 thì chị V xin phép về nhà ngoại ở xã N có công việc, sau đó chị không về lại nhà nữa; Vợ chồng chị V và anh N sống ly thân từ thời điểm đó. Sau đó anh N đưa con là cháu Lê Đăng K về sống chung với gia đình ông cho đến nay. Về nguyên nhân chị V yêu cầu ly hôn với anh N thì gia đình ông không biết, vì trước đó ông thấy cuộc sống vợ chồng vẫn bình thường. Anh N hiện nay làm nghề sơn nước ở địa phương. Các văn bản, giấy tờ của Tòa án gửi cho anh N thì anh N đều nhận được, nhưng do anh N bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc được. Quan điểm của anh N về việc chị V yêu cầu ly hôn, thì anh N cũng có trao đổi với gia đình là không muốn ly hôn, để con được sống với cả bố và mẹ.
Tại “Bản tự khai” do cháu Lê Đăng K viết ngày 28/01/2026 gửi Tòa án, có trình bày thể hiện nguyện vọng là lâu nay cháu đang ở với bố và ông nội tại thôn N, xã S, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu xin được ở với bố (anh N) để ổn định cuộc sống.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:
I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Khánh V.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Khánh V được ly hôn với anh Lê Đăng N.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Đăng K, sinh ngày 24/10/2018 cho anh Lê Đăng N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phạm Thị Khánh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Phạm Thị Khánh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dấn ự; điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Phạm Thị Khánh V phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Phạm Thị Khánh V khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Lê Đăng N, hiện đang cư trú tại: Thôn N, xã S, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Lê Đăng N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Khánh V và anh Lê Đăng N tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã X, huyện T (nay là xã S), tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 12/7/2018, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh Nghĩa L hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung trong gia đình. Từ tháng 03/2025 vợ chồng đã sống ly thân. Qúa trình giải quyết vụ án, chị V một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn; Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh N không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị V, xử cho chị Phạm Thị Khánh V được ly hôn với anh Lê Đăng N.
Về con chung: Chị Phạm Thị Khánh V và anh Lê Đăng N có 01 con chung là cháu Lê Đăng K, sinh ngày 24/10/2018.
Xét: Tại Đơn khởi kiện chị V có thể hiện quan điểm là xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, sau khi biết được nguyện vọng của con chung cháu K muốn được ở với bố (anh N) cho thuận tiện sinh hoạt, thì chị V đồng ý đề nghị Tòa án giao con cho anh N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu Đăng K đã trên 7 tuổi và có ý kiến thể hiện nguyện vọng là xin được ở với bố (anh N) để ổn định cuộc sống. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao con chung là cháu Lê Đăng K cho anh Lê Đăng N trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V có ý kiến là chị sẽ có trách nhiệm hỗ trợ anh N nuôi con, tuy nhiên do hiện nay điều kiện kinh tế của chị đang khó khăn, nên không có khả năng cấp dưỡng; Anh N thì không có ý kiến yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, chị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Chị Phạm Thị Khánh V không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Lê Đăng N không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị Khánh V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Khánh V được ly hôn với anh Lê Đăng N.
2. Về con chung: Chị Phạm Thị Khánh V và anh Lê Đăng N có 01 (một) con chung là cháu Lê Đăng K, sinh ngày 24/10/2018.
Giao con chung là cháu Lê Đăng K cho anh Lê Đăng N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phạm Thị Khánh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Phạm Thị Khánh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị Khánh V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị V đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001701 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, chị Phạm Thị Khánh V đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 - Thanh Hoá; - THADS tỉnh Thanh Hoá; - P. kiểm tra nghiệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - UBND xã Sao Vàng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Minh Tiến |