- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị Thúy S - Hoàng văn T - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Triệu Thị Thúy S được ly hôn anh Hoàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2026/HNGĐ-ST Ngày: 17-7-2026 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đức và ông Trần Ngọc Thái
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Không thuộc thành phần tham gia.
Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 179/2026/TLST-HNGĐ ngày 13-5-2026 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29-6-2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Thúy S, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn D, xã
T, tỉnh Lào Cai, số căn cước: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp: 28/11/2024.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Lào Cai, số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp: 13/4/2021.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Triệu Thị Thúy S trình bày:
Chị và anh Hoàng Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 25/02/2022 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống hoà thuận đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh T không tu trí làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được. Hiện chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau.
Chị S xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
Về nuôi con: Chị và anh Hoàng Văn T không có con nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 29/6/2026 anh Hoàng Văn T trình bày: Anh và chị S tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 25/02/2022 tại UBND xã T, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Chị S không trung thủy với anh nên vợ chồng thường sảy ra tranh cãi xúc phạm nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh nhất trí ly hôn.
Về nuôi con: Anh và chị S không có con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về chia tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”. Bị đơn anh Hoàng Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn D, xã T, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai.
Tại phiên tòa, chị S va anh T vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Thúy S và anh Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của chị S và anh T thì cuộc sống hôn nhân giữa anh chị có nhiều mâu thuẫn. Chị và anh T đã khắc phục nhưng không cải thiện được nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Anh chị đều xác đình tình cảm vợ chồng đã hết và đều yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị S và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu ly hôn của chị S là có căn cứ chấp nhận.
Về nuôi con: Chị và anh T không có con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định. Anh T không phải chịu án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Chị Triệu Thị Thúy S được ly hôn anh Hoàng Văn T.
2. Về án phí: Chị Triệu Thị Thúy S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0001858 ngày 13-5-2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Lào Cai. Anh Hoàng Văn T không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND KV2- Lào Cai; - Phòng THADS KV2- Lào Cai; - UBND xã Tân Lĩnh, Lào Cai; - Các đương sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Thu Hương |