vanban.org

Bản án 97/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 08/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: HOÀNG NT phạm tội Trộm cắp tài sản.

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Xử phạt: HOÀNG NT 12 (MƯỜI HAI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: HOÀNG NT phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HSST
Ngày 08 tháng 5 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán. Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai và Ông Nguyễn Đình Tú

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 của Công an thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, đối với:

* Bị cáo: Hoàng NT. Sinh năm: 1958. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. HKTT: Khu Tr, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Không nơi ở cố định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Họ và tên cha: Hoàng Đăng V – Đã chết. Họ và tên mẹ: Phạm Tr1 – Đã chết. Họ và tên chồng: Nguyễn Văn T - Đã chết.

Danh chỉ bản số 76 do Công an quận Hoàn Kiếm lập ngày 26/01/2025.

*Tiền án: Ngày 07/3/2024, Tòa án nhân dân quận L xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ngày phạm tội 29/10/2023), miễn án phí hình sự sơ thẩm; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2023 (AS 37/2024/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/10/2024 – Án tích chưa được xóa. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.

*Nhân thân: 05 tiền sự, 08 tiền án

- Từ năm 1982 đến năm 2004, có 05 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc – Ngoài thời hiệu;

- Ngày 18/5/1987, Tòa án nhân dân quận Đ1 xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân (không xác định trị giá tài sản trộm cắp); thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/1987 (AS 136/1987/HSST) – Án tích đã xóa;

- Ngày 07/12/1999, Tòa án nhân dận thị xã S, Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; thời hạn tù tính từ ngày 06/8/1999 (AS 33/1999/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2000. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xác định: Ngày 22/02/2000, đội THADS thị xã S không thụ lý thi hành án và đã phát hành Quyết định ủy thác thi hành án số 02 cho đội THADS huyện Đ2 (nay là Chi cục THADS Đ2, tỉnh Thái Nguyên) thi hành án với Hoàng NT khoản án phí HSST và DSST 175.000 đồng. Đối với khoản tiền bồi thường cho bà Vũ ĐT 01 dây chuyền vàng ta 05 chỉ trị giá 2.500.000 đồng và bồi thường cho bà Đặng DT số tiền 10.000 đồng. Qua tra cứu sổ sách quản lý về thụ lý thi hành án không có hồ sơ theo đơn yêu cầu thi hành án của bà ĐT và bà DT. Do đó đã hết thời hiệu thi hành án Xác minh tại Chi cục THADS huyện Đ2 xác định: Ngày 16/9/2010, Chi cục THADS huyện Đ2 ra Quyết định đình chỉ thi hành án số 104 đối với khoản tiền án phí 175.000 đồng - Án tích đã được xóa.

- Ngày 26/4/2002, Tòa án nhân dân quận B xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 30/01/2002 (AS 106/2002/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2003. Xác minh tại Chi cục THADS huyện Đ2, tỉnh Thái Nguyên xác định Hoàng NT được đình chỉ thi hành án khoản tiền án phí 50.000 đồng theo Quyết định đình chỉ thi hành án số 70 ngày 16/9/2010 – Án tích đã được xóa

- Ngày 25/9/2006, Tòa án nhân dân quận T1 xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn tù tính từ ngày 08/07.2006 (AS 96/2006/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2008. Ngày 08/12/2011, Hoàng NT đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng – Án tích đã được xóa.

- Ngày 15/3/2011, Tòa án nhân dân quận H xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2010 (AS 74/2011/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2011. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng theo Biên lai số 2659 ngày 15/3/2011 tại Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm – Án tích đã được xóa.

- Ngày 15/9/2012, Tòa án nhân dân quận Đ1 xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn tù được tính từ ngày 01/7/2012 (AS 463/2012/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2013. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng theo biên lai số 03598 ngày 28/3/2013 tại Chi cục THADS huyện C, tỉnh Lạng Sơn – Án tích đã được xóa.

- Ngày 26/5/2016, Tòa án nhân dân thành phố H1 xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2015 (AS 58/2016/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/12/2017. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng theo Biên lai số 0011419 ngày 08/9/2016 của Chi cục THADS thành phố H1 – Án tích đã được xóa.

- Ngày 21/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2018 (AS 90/2018/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2021. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng theo Biên lai số 0003668 ngày 24/9/2018 của Chi cục THADS huyện C – Án tích đã được xóa.

Tạm giữ: 26/01/2025 Tạm giam: 29/01/2025

Hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hà Nội.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Chị Nguyễn MT. Sinh năm : 1995 ; Nơi ở hiện tại : Số 57 A, phường Y, quận T, Hà Nội. (Chị MT có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25 tháng 01 năm 2025, chị Nguyễn MT (Sinh năm 1995 ; Nơi ở hiện tại : Số 57 A, phường Y, quận T, Hà Nội) để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung S22 Ultra màu tím, số Imei 353748/82/247567/6, kèm sim số 0353708796 trong túi áo khoác bên trái đến chợ hoa tết tại phố Hàng Mã, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đến 21 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực trước cửa số 53 Hàng Mã thì Hoàng NT áp sát dùng tay trái lấy 01 chiếc điện thoại trên từ trong túi áo khoác của chị MT. Lúc này, chồng chị MT là anh Lê Thành Đ3 (Sinh năm : 1994 ; Nơi ở hiện tại : Số 57 A, phường Y, quận T, Hà Nội) phát hiện và giữ được tay của NT, trên tay NT đang cầm chiếc điện thoại của chị MT. Sau đó, chị MT, anh Đ3 đã đưa Hoàng NT về trụ sở công an phường Hàng Mã trình báo sự việc.

Thu giữ của Hoàng NT : 01 điện thoại Samsung S22 Ultra màu tím, đã qua sử dụng, số Imei : 353748/82/247567/6, kèm sim số 0353708796.

Tại Bản Thông báo kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung S22 Ultra, màu tím, số Imei 353748/82/247567/6 đã qua sử dụng trị giá 9.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra Hoàng NT khai : tối ngày 25/01/2025, Hoàng NT đi lang thang một mình tại khu vực phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội với mục đích tìm ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đến trước số 53 Hàng Mã thì NT phát hiện thấy chị Nguyễn MT đang bế con nhỏ có để điện thoại Samsung S22 Ultra màu tím ở túi trong bên trái áo khoác đang mặc (không kéo khoá áo) đi cùng chồng là Lê Thành Đ3. Thấy vậy, NT áp sát xô vào từ bên trái chị MT rồi dùng tay trái móc trộm được điện thoại của chị MT. Chị MT phát hiện hô lên thì anh Đ3 ở bên cạnh lập tức bắt giữ NT lại thấy trên tay phải NT đang cầm điện thoại của chị MT. Sau đó, anh Đ3, chị MT đã đưa NT về Công an phường Hàng Mã như đã nêu trên. Ngoài ra, NT còn khai bố mẹ mất sớm, không được đi học nên NT không biết đọc, biết viết. NT sống lang thang tại Hà Nội, không có nơi ở cố định. NT thực hiện hành vi trộm cắp một mình, không có ai giúp sức.

Chị Nguyễn MT và anh Lê Thành Đ3 cùng khai bị NT trộm cắp 01 chiếc điện thoại như đã nêu trên. Ngày 15/02/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại chiếc điện thoại cho chị MT. Sau khi nhận lại tài sản, chị MT không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đã truy tố Hoàng NT tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận như khai tại Cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Hoàng NT phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật Hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng NT phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng NT với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt phụ do bị cáo không có nghề nghiệp. Bị cáo được miền án phí hình sự sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xét.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi Trộm cắp tài sản của mình là phạm tội, xin hứa không tái phạm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chị Nguyễn MT có ý kiến xin được vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai người bị hại, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/01/2025, Hoàng NT đã có hành vi lén lút trộm cắp của chị Nguyễn MT 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S22 Ultra màu tím, trị giá 9.000.000 đồng tại trước số 53 Hàng Mã, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi Trộm cắp tài sản bị pháp luật nghiêm cấm, Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần này là lần thứ mười bốn, đã phải thi hành án tù của 08 bản án nhưng không lấy đó làm bài học, tiếp tục cố ý thực hiện khi chưa hết thời hạn xoá án tích của bản án năm 2024, vì vậy việc truy tố và xét xử bị cáo Hoàng NT về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án thuộc trường hợp tái phạm.

Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt phụ bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về Dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên HĐXX không xét.

[8 Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Án phí: Bị cáo trên 60 tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: HOÀNG NT phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng:

- Điều 173 khoản 1; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật Hình sự.

- Điều 106, 135, 136, khoản 5 Điều 328, Điều 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

3. Xử phạt: HOÀNG NT 12 (MƯỜI HAI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2025.

4. Về Dân sự: Bị hại - chị MT không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xét.

5. Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ