vanban.org

Bản án 97/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 16/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Anh D phạm tội “Môi giới mại dâm”

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Võ Anh D 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Anh D - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Anh D phạm tội “Môi giới mại dâm”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HSST
Ngày: 16/05/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Ông Nguyễn Xuân Luyện

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16/05/2025, tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 83/2025/TLST-HS ngày 23/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HS ngày 29/04/2025 đối với bị cáo:

Võ Anh D, sinh ngày 09/05/1997 tại Kiên Giang; HKTT: X, Y, Z; Chỗ ở: X, Y, Z; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Võ Bình D; Mẹ: Lâm Thị L; Vợ: Nguyễn Thị N; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 108/2019/HSST ngày 03/10/2019, TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 19/12/2020, nộp án phí ngày 04/8/2020 (bị cáo đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 10/01/2025, tạm giam từ ngày 19/01/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố Hà Nội. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996, HKTT: Tổ 36, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (có đơn xin vắng mặt)

2. Chị Lù Thị H, sinh năm 2000, HKTT: Thôn Tả Làng, xã Pải Lủng, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, Đội Cảnh sát hình sự - Công an quận Long Biên tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện tại phòng 703 Khách sạn B, số 141 Hồng Tiến, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội có 01 đôi nam nữ gồm: Nguyễn Văn T (sinh năm 1996, HKTT: Tổ 36, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội) và Lù Thị H (sinh năm 2000, HKTT: Thôn Tả Làng, xã Pải Lủng, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang) đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Tại chỗ, Nguyễn Văn T và Lù Thị H khai nhận đang thực hiện hành vi mua bán dâm và việc T mua dâm của Lù Thị H là do Võ Anh D môi giới. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan đưa T và H về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Võ Anh D và những người liên quan khai:

Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 09/01/2025, Nguyễn Văn T sử dụng tài khoản Zalo tên “Thành Đạt Crt”, nhắn tin liên hệ với Võ Anh D qua tài khoản “Duy Sành Lounge” số 0783796068 để đặt bàn lên Bar uống rượu nghe nhạc. Quá trình nói chuyện, T nhắn tin cho D đặt vấn đề nhờ tìm gái bán dâm. Võ Anh D đồng ý và gọi gái bán dâm cho T với giá tiền là (5.000.000 đồng/01 lần bán dâm, nếu qua đêm giá 8.000.000 đồng, nếu đi ăn uống cùng nhau sau đó về bán dâm qua đêm giá 9.000.000 đồng) T đồng ý. Võ Anh D liên hệ với một tài khoản Zalo tên “Chị Cừu” để người này gọi gái bán dâm và được “Chị Cừu” gửi cho một số hình ảnh của gái bán dâm. Sau đó, Võ Anh D đã chuyển tiếp các ảnh này gửi cho T xem để T chọn gái bán dâm. Chọn gái bán dâm xong, T nhắn tin cho D hẹn gái bán dâm đến Khách sạn B số 141 phố Hồng Tiến, quận Long Biên, Hà Nội. D nhắn tin cho “Chị Cừu” để “Chị Cừu” nhắn tin cho tài khoản Zalo “Hien” với nội dung: “Có kèo đi nhanh em đi không” H hiểu là đi bán dâm với mỗi lần bán dâm được “Chị Cừu” trả cho 2.500.000 đồng thì H đồng ý. Sau khi H đồng ý thì “Chị Cừu” báo lại cho D để D báo lại T đồng thời yêu cầu T chuyển khoản cho D số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 060269626081 mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) để trả tiền mua dâm. Võ Anh D đã dùng tài khoản Zalo của mình nhắn tin cho “Chị Cừu” thông tin của khách mua dâm và sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển số tiền 4.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của “Chị Cừu” số 9348164501 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) mang tên KHONG THI TRANG. Bản thân D thừa nhận được hưởng lợi 1.000.000 đồng trong việc môi giới gái bán dâm cho T. Sau đó “Chị Cừu” nhắn cho H số điện thoại 0359339557 của T (khách mua dâm) đồng thời bảo H đến địa chỉ phòng 703 khách sạn B, số 141 Hồng Tiến, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội để bán dâm. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, khi T và H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị cơ quan công an kiểm tra hành chính phát hiện và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.

Lời khai của Võ Anh D phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tang vật thu giữ:

Thu giữ của Lù Thị H: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax.

Thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen.

Thu giữ của Võ Anh D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh dương và số tiền 1.000.000 đồng (D tự nguyện giao nộp).

Đối với người phụ nữ tên “Chị Cừu”: Quá trình xác minh chủ tài khoản ngân hàng 9348164501 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) mang tên Khổng Thị T (Sinh ngày: 18/9/2004; nơi cư trú: X, Y, Z). Cơ quan điều tra đã triệu tập Khổng Thị T để điều tra làm rõ nhưng Khổng Thị T không có mặt tại địa phương. Võ Anh D và Lù Thị H đều khai không biết nhân thân lai lịch của người phụ nữ có tài khoản Zalo “Chị Cừu”. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự liên quan đến Khổng Thị T và đối tượng có tài khoản Zalo “Chị Cừu” để tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với Nguyễn Văn T và Lù Thị H: Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn T đã có hành vi mua dâm vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ và Lù Thị H đã có hành vi bán dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Do đó, Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T và Lù Thị H.

Đối với khách sạn B, số 141 phố Hồng Tiến, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội thuộc sở hữu của Công ty TNHH H chủ sở hữu là ông Trần Anh T (Sinh năm: 1963; HKTT: X, Y, Z) và đại diện theo pháp luật là ông Đỗ Mạnh H (Sinh năm: 1993; HKTT: X, Y, Z): Quá trình điều tra xác định, hoạt động của cơ sở kinh doanh có đầy đủ giấy tờ hợp lệ. Nhân viên quản lý của khách sạn không biết việc các đối tượng thuê phòng để mua bán dâm. Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với chủ cơ sở kinh doanh, người đại diện theo pháp luật và nhân viên quản lý Khách sạn B.

Đối với 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax (thu giữ của Lù Thị H); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen (thu giữ của Nguyễn Văn T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh dương và số tiền 1.000.000 đồng (thu giữ của Võ Anh D); Quá trình điều tra xác định, 03 điện thoại trên Võ Anh D, Nguyễn Văn T, Lù Thị H dùng để liên lạc trong quá trình môi giới mại dâm cũng như bán dâm. Số tiền 1.000.000 đồng là số tiền D hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm. 01 bao cao su đã qua sử dụng là tang vật của vụ án. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xem xét giải quyết.

Tại Bản cáo trạng số: 68/CT-VKSLB ngày 21/4/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Võ Anh D về tội: “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Võ Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được UBND phường Vĩnh Lạc, thành phố Kiên Giang, tỉnh Kiên Giang xác nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Anh D mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bao cao su (đã qua sử dụng) thu giữ của chị Lù Thị H.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu đen đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Văn T, 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của chị Lù Thị H, 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương đã qua sử dụng và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Võ Anh D do liên quan đến hành vi phạm tội và là tiền thu lợi bất chính.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 09/01/2025 tại phòng 703 Khách sạn B, số 141 Hồng Tiến, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội, Võ Anh D có hành vi môi giới mại dâm cho Nguyễn Văn T, Lù Thị H và hưởng lợi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Hành vi của bị cáo Võ Anh D có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội: “Môi giới mại dâm”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội, sức khỏe người khác và là nguyên nhân lan truyền các bệnh nguy hiểm cho nhiều người được bộ luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình đã được UBND phường Vĩnh Lạc, thành phố Kiên Giang, tỉnh Kiên Giang xác nhận nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bao cao su (đã qua sử dụng) thu giữ của chị Lù Thị H.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu đen đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Văn T, 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của chị Lù Thị H, 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương đã qua sử dụng và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Võ Anh D do liên quan đến hành vi phạm tội và là tiền thu lợi bất chính.

Đối với hành vi bán dâm của chị Lù Thị H và hành vi mua dâm của anh Nguyễn Văn T: Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với chủ cơ sở kinh doanh, người đại diện theo pháp luật và nhân viên quản lý Khách sạn B: Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ tên “Chị Cừu”: Quá trình xác minh chủ tài khoản ngân hàng 9348164501 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) mang tên Khổng Thị T (Sinh ngày: 18/9/2004; nơi cư trú: Thôn X, Y, Z). Cơ quan điều tra đã triệu tập Khổng Thị T để điều tra làm rõ nhưng Khổng Thị T không có mặt tại địa phương. Võ Anh D và Lù Thị H đều khai không biết nhân thân lai lịch của người phụ nữ có tài khoản Zalo “Chị Cừu”. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự liên quan đến Khổng Thị T và đối tượng có tài khoản Zalo “Chị Cừu” để tiếp tục xác minh làm rõ là có căn cứ.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Anh D phạm tội “Môi giới mại dâm”

1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Võ Anh D 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bao cao su (đã qua sử dụng) thu giữ của chị Lù Thị H.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu đen đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Văn T, 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của chị Lù Thị H, 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương đã qua sử dụng và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Võ Anh D.

(Tất cả hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/04/2025 và Giấy nộp tiền mặt ngày 22/04/2025).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ