- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Chí H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!Đ THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2025/HS-ST Ngày: 28/5/2025! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!Đ!-!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương!Thị!Hà
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Đệ.
- Ông Phạm Mạnh Hà.
-"Thư"ký"phiên"toà: Bà Hoàng Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội.
-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân huyện"Đ,"thành"phố"Hà"Nội"tham"gia" phiên"toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô! Chí! H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990 tại Hà Nội; Nơi thường trú: Tổ 1, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Họ và tên bố: Ngô Thanh T, sinh năm 1950; Họ và tên mẹ: Trần Thị B (Đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Khương Thị D (đã ly hôn); Có 02 con: Lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2025 đến nay Trại tạm giam thành phố Hà Nội – Phân trại khu vực Đ. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh!Phí!Văn!H2,!sinh năm 2006; Nơi thường trú: Thôn 1B, xã M, huyện Đ, tỉnh Ph. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:
Anh Phí Văn H2 – sinh ngày 11/3/2006 ở thôn 1B, xã M, huyện Đ, tỉnh Ph quen biết với Ngô Chí H từ khoảng tháng 6/2024. Ngày 15/08/2024, H đến xin ngủ nhờ tại phòng trọ của anh H2 tại thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Khoảng 00h30 ngày 16/8/2024, anh H2 để chiếc xe máy Honda Wave Alpha, sơn màu: xanh – đen - bạc, biển kiểm soát 19E1-372.85, số khung: 002702, số máy: 2117242 tại lán trong khu trọ, xe không khóa cổ khóa càng, sau đó lên phòng ngủ cùng Ngô Chí H. Khi đi ngủ, anh H2 để chìa khóa xe máy trên ghế và 02 chiếc điện thoại là Iphone 7 plus và iphone 6 tại đầu giường ngủ trong phòng, khoá cửa phòng. Lợi dụng khi anh H2 đang ngủ say, H lấy 02 chiếc điện thoại và chìa khóa xe máy rồi đi xuống lán, lấy chiếc xe máy Honda Wave alpha, BKS 19E1-372.85 điều khiển bỏ trốn. Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 16/8/2024, anh H2 ngủ dậy không thấy H, 02 chiếc điện thoại di động và xe máy Honda Wave anpha, BKS 19E1-372.85 cũng bị mất, anh H2 đã đến cơ quan Công an trình báo.
Ngô Chí H sau khi lấy được tài sản của anh H2 đã mang 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus đến một cửa hàng tại V (H không nhớ tên, địa chỉ) bán được 500.000 đồng, 01 chiếc điện thoại còn lại bị hỏng nên đã vứt bỏ, mang chiếc xe máy đến gặp anh Dương Anh T (SN 1970, trú tại L, xã Đ, huyện V, tỉnh V) nói là xe của H và gửi chiếc xe máy trên tại nhà anh T.
Sau khi lấy tài sản H bỏ trốn đến ngày 06/03/2025 ra cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ vật chứng:" 01 xe máy Honda Wave Alpha, sơn màu: Xanh – đen- bạc, biển kiểm soát 19E1-372.85, số khung: 002702, số máy: 2117242 của anh Dương Anh T.
Ngày 10/9/2024, 12/03/2025, Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ có kết luận số 160.34 kết luận:
+ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, sơn màu: Xanh – đen - bạc, biển kiểm soát 19E1-372.85, số khung: 002702, số máy: 2117242 có trị giá là 12.000.000 đồng;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus dung lượng 128GB màu đen (không nhớ số Imei) có trị giá là 1.500.000 đồng;
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 dung lượng 16GB màu trắng (không nhớ số Imei) có trị giá 500.000 đồng.
+ 01 Chiếc sim điện thoại số 0869084726 trị giá 50.000 đồng.
Tổng tài sản Ngô Chí H trộm cắp của anh H2 là: 14.050.000 đồng (Mười bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định anh Dương Anh T có hành vi cho H gửi xe máy nhưng không biết là tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, sơn màu: Xanh – đen- bạc, biển kiểm soát 19E1-372.85, số khung: 002702, số máy: 2117242 đăng ký tên Phí Ngọc S (SN 06/12/1982, trú tại Thôn 1B, M, Đ, Ph) là bố của anh H2, anh H2 mượn để sử dụng. Ngày 17/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh H2.
Về!dân!sự:!Ngày 18/11/2024, bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho anh Phí Văn H2. Anh H2 nhận tiền và không đề nghị gì về dân sự, anh xin giảm nhẹ hình phạt cho H.
Tại cáo trạng số 99/CT-VKS - ĐA ngày 09/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Ngô Chí H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại!phiên!tòa:!!
-!Bị cáo H giữ nguyên các lời khai đã trình bày thành khẩn và trung thực tại cơ quan điều tra khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Ngô Chí H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
- Về!xử!lý!vật!chứng:!Không.
-!Về!dân!sự: Anh H2 đã nhận tiền bồi thường 7.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không đặt ra giải quyết.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong được sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về!hành!vi,!quyết!định!tố!tụng:!Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
2. Về!hành!vi!phạm!tội!của!bị!cáo:!
Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu và giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người làm chứng; phù hợp với Biên bản sự việc, Sơ đồ hiện trường, hình ảnh camera thu giữ và các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ cở xác định:
Khoảng 00 giờ 10’ ngày 16/9/2024, Ngô Chí H đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, sơn màu: Xanh – đen- bạc, biển kiểm soát 19E1-372.85, 02 điện thoại di động kèm sim của anh Phí Văn H2 tại thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tổng trị giá tài sản H chiếm đoạt là 14.050.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều!173!Bộ!luật!Hình!sự!quy!định:!!
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ………………. thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ….
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện Đ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do vậy, cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời đấu tranh, tuyên truyền, phòng ngừa chung là cần thiết. Có tác dụng phòng ngừa tội phạm về xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung.
3. Về!nhân!thân!và!tiền!án,!tiền!sự!của!bị!cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
4.!Về!tình!tiết!tăng!nặng,!giảm!nhẹ!trách!nhiệm!hình!sự!và!mức!hình!phạt:!
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp là chiếc xe máy đã được trả lại cho bị hại, bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có bố đẻ là ông Ngô Thanh T tham gia kháng chiến chống Mỹ được tặng huân chương kháng chiến hạng Nhất, bị nhiễm chất độc da cam nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Không.
- Về hình phạt chính: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét một cách toàn diện vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đánh giá toàn diện vụ án cho thấy: Bị cáo có mối quan hệ là bạn bè với anh H2, do có lòng tham, thiếu tu dưỡng nên dẫn đến hành vi trộm cắp tài sản của anh H2 để lấy tiền tiêu sài cá nhân, giá trị tài sản trộm cắp không lớn, đối với chiếc xe máy bị cáo trộm cắp đã được trả lại cho bị hại, đối với 02 chiếc điện thoại di động trộm cắp bị cáo đã đền bù thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, cần cân nhắc mức hình phạt để có tính răn đe và giáo dục chung.
Căn cứ vào diễn biến hành vi phạm tội; số tiền bị cáo phạm tội, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích ở trên và có nhân thân tốt nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù dưới mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật trong chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước.
5. Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, thu nhập, khả năng thi hành án, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định…. là phù hợp với quy định pháp luật.
6. Về xử lý vật chứng: Không.
7.!Về dân sự: Anh H2 đã nhận tiền bồi thường 7.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét giải quyết.
8. Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên toà về đề xuất đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT!ĐỊNH!
1.!Về!tội!danh!của!bị!cáo:!Tuyên bố bị cáo Ngô Chí H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.!Về!điều!luật!và!hình!phạt!áp!dụng!đối!với!bị!cáo:!
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử!phạt:!Bị!cáo!Ngô!Chí!H 5 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2025.
3.!Về!xử!lý!vật!chứng: Không.
4. Về!trách!nhiệm!dân!sự: Bị hại đã nhận lại tài sản trộm cắp và tiền bồi thường thiệt hại, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.
5.!Về!án!phí!và!quyền!kháng!cáo: Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Ngô Chí H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ. Nơi!Nhận:!
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- Tòa án NDTP Hà Nội;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ!
- Sở Tư pháp TP Hà Nội;
- VKSND huyện Đ;
!
- Công an thành phố Hà Nội;
- Chi cục THADS huyện Đ;
!
- Bị cáo; Bị hại.
!
- Lưu hồ sơ vụ án; VP.
Trương!Thị!Hà! ! ! !