- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn (N-L)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
- Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 6 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tăng Thị Bạch Vân.
Ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 167/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà N. Địa chỉ: Ấp A1, xã B1, huyện C1, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông L. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà N trình bày: Bà N và ông L quen biết nhau, có tình cảm và về sống chung với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C1, thành phố Cần Thơ ngày 27/5/2009. Quá trình chung sống, hai người có 01 con chung tên V, sinh ngày 09/8/2008 hiện đang sống chung với bà N. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai người sống chung rất hạnh phúc, nhưng gần đây hai người luôn bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, hai người không còn tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay…
Nay nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Về hôn nhân: Bà N yêu cầu được ly hôn với ông L.
+ Về con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V đến tuổi trưởng thành; không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên bà N không yêu cầu giải quyết.
Bà N đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Mọi vấn đề có liên quan bà N vẫn giữ nguyên theo lời trình bày có trong hồ sơ và cam kết không khiếu nại gì về sau.
- Bị đơn ông L: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L nhưng ông L không có mặt tham gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị xét xử vắng mặt thì bà N vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Theo đơn khởi kiện, về hôn nhân, bà N yêu cầu được ly hôn với ông L; về con chung, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung, bà N không yêu cầu giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Kế Sách thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ông L là bị đơn, có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, huyện C; Tòa án nhân dân huyện Kế Sách thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông L là những người có đủ điều kiện kết hôn, hai người đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C1, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/5/2009, nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông L là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, bà N trình bày sau khi kết hôn, thời gian đầu hai người sống chung rất hạnh phúc, nhưng gần đây hai người luôn bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, hai người không còn tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay… nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông L. Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù ông L biết được việc bà N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông L nhưng trong những lần Tòa án mời hòa giải thì ông L đều vắng mặt, từ đó mà Tòa án đã không tiến hành hòa giải được; hiện nay giữa bà N và ông L cũng không tìm ra được cách thức để hàn gắn tình cảm và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau. Như vậy, việc bà N và ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện nay đã sống ly thân với nhau, mỗi người sống ở một nơi và không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của vợ chồng, mặc dù đã được Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hiện nay, bà N vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông L. Vì vậy, việc bà N yêu cầu được ly hôn với ông L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và giải quyết cho bà N được ly hôn với ông L.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà N và ông L có với nhau 01 người con chung tên V, sinh ngày 09/8/2008. Hiện nay, cháu V đang sống cùng với bà N và do bà N trực tiếp nuôi dưỡng; bà N có đủ khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng cháu V; cháu V cũng có nguyện vọng được sống chung với bà N trong trường hợp Tòa án giải quyết cho bà N và ông L ly hôn với nhau; việc tiếp tục giao cháu V cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu V, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V của bà N và giải quyết giao cháu V cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông L thực hiện các quyền này. Ông L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà N. Trường hợp ông L có các hành vi này thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông L. Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà N được ly hôn với ông L. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 27/5/2009 do Ủy ban nhân dân xã B1, huyện C1, thành phố Cần Thơ cấp)
1.2. Về con chung: Giao người con chung là cháu V, sinh ngày 09/8/2008 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông L thực hiện các quyền này. Ông L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà N. Trường hợp ông L có các hành vi này thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông L theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
1.5. Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà N không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001260, ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà N đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự (02); - VKSND huyện Kế Sách (01); - Chi cục THADS huyện Kế Sách (01); - TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - UBND xã B1 (01); - Lưu HSVA, Văn phòng (02). TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt. Các Hội thẩm nhân dân: 76/2025/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, giữa: Đỏ, thành phố Cần Thơ. Trăng. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: phán quyết sau đây: của vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Kết quả biểu quyết thống nhất 3/3 (100%). án nhân dân huyện Kế Sách theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Kết quả biểu quyết thống nhất 3/3 (100%). theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. kết hôn số 73 ngày 27/5/2009 do Ủy ban nhân dân xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ cấp) N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). không ai được cản trở ông L thực hiện các quyền này. Ông L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà N. Trường hợp ông L có các hành vi này thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông L theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con chung có thể được Tòa án quyết định thay đổi theo quy định của pháp luật. không đặt ra xem xét, giải quyết. quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết. nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết. Kết quả biểu quyết thống nhất 3/3 (100%). đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001260, ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà N đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết thống nhất 3/3 (100%). kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Kết quả biểu quyết thống nhất 3/3 (100%). * Về các vấn đề khác: Không có. Kết quả biểu quyết thống nhất 3/3 (100%). Nghị án kết thúc vào hồi giờ nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Việt CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc phút, ngày 17 tháng 6 năm 2025. Tại phòng nghị án của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Bà Tăng Thị Bạch Vân. Ông Nguyễn Văn Sơn. Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 1. Nguyên đơn: Bà N, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp 8, xã Thới Hưng, huyện Cờ 2. Bị đơn: Ông L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh Hội đồng xét xử sơ thẩm biểu quyết thống nhất 03/03 (100%) với các nội dung * Về quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án: Quan hệ pháp luật tranh chấp * Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa * Về giải quyết yêu cầu của đương sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N - Về quan hệ hôn nhân: Bà N được ly hôn với ông L. (Theo Giấy chứng nhận - Về con chung: Giao người con chung là cháu V, sinh ngày 09/8/2008 cho bà Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án - Về tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có và không yêu cầu giải - Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà N không yêu cầu giải quyết, * Về án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000 * Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền phút, ngày 17 tháng 6 năm 2025. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng |