- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢICHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:97 /2024/HSST Ngày:17 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
\- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Cán bộ
Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham
gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng số C L, quận H, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/HSST ngày 03.6.2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thị Đ (tên gọi khác: không)- sinh ngày 05 tháng 5 năm
1996 tại tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm F, thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Số
CCCD: 051196000794 cấp ngày 06 tháng 4 năm 2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiê ̣p: Không. Con ông: Ngô Xịa (Sịa) (sinh năm 1972 sống) và bà Nguyễn Thị P (chết). Gia đình có 06 anh em, bị cáo và con thứ 02. Có chồng : Nguyễn Thanh L (sinh năm 1991) và có 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2023).
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân :
- Bản án số 58/2013/HSST ngày 22/10/2013 của TAND huyện Núi Thành,
tỉnh Quảng Nam, xử phạt Ngô Thị Đ 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản l Điều 138 Bộ luật Hình sự.
- Bản án số 51/2015/HSST ngày 06/02/2015 của TAND thị xã Dĩ An, tỉnh
Bình Dương, xử phạt Ngô Thị Đ 04 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 58/2013/HSST ngày 22/10/2013của TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 tháng tù.
- Bản án 133/2015/HSST ngày 29/5/2015, của TAND quận Tân Bình, TP
Hồ Chí Minh, xử phạt Ngô Thị Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt 16 tháng tù của Bản án số 51/2015/HSST ngày 06/02/2015, của TAND thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 01 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/09/2016, đã xóa án tích.
- Bản án 17/2017/HSST ngày 13/07/2017 của TAND quận Sơn Trà, TP Đà
Nẵng, xử phạt Ngô Thị Đ 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. (Trộm ĐT Sam sung 3.616.000 triệu) Chấp hành xong hình phạt ngày 25/8/2017, đã xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn
xuất cảnh từ ngày 19.3.2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Ngô Lê Thảo U – sinh ngày 05.8.2006.
Nơi thường trú: Tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
Nơi cư trú: K L, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện hợp pháp của chị U: Bà Lê Thị Phước T - sinh năm 1968 là
mẹ ruột của chị U, nơi thường trú: Tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.Nơi cư trú: K L, quận T, thành phố Đà Nẵng.Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S – sinh năm
1986.
Địa chỉ: Xóm E, thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h00’ ngày 06/02/2024, Ngô Thị Đ cùng với dì ruột là Nguyễn Thị
S đến khu Chợ đêm ở kiệt A L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng để mua sắm. Điều thấy chị Nguyễn Lê Thảo U1 đang mua đồ và có để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max trong túi áo khoác, lộ ra ngoài nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp. Điều đứng sát sau lưng chị U1, dùng tay trái lấy điện thoại ra khỏi túi áo. Ngay lúc này, anh Võ Bá D phát hiện, tri hô và cùng với các anh: Võ Bá C, Võ Bá Đăng K bắt giữ, giao cho Công an phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Tang vật thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu
trắng, viền xanh, dung lượng 128 Gb, số I: 3570612239 18997, có ốp lưng bằng nhựa, màu trắng có hình động vật, đã qua sử dụng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HÐĐG ngày 26/02/2024 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Điện thoại trên có trị giá 8.920.000 đồng; ốp lưng có trị giá 30.000 đồng. Tổng cộng là 8.950.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSHC ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Ngô Thị Đ về tội "Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ
nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự
để xử phạt bị cáo Ngô Thị Đ từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không
có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Ngô Thị Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
tại khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà bị cáo Ngô Thị Đ
đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 19h00’ ngày 06/02/2024, tai Chợ đêm ở kiệt A L, phường T, quận
H, TP ., Ngô Thị Đ có hành vi trộm cắp 0l điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng của chị Nguyễn Lê Thảo U1 thì bị bắt quả tang. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.950.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, cáo trạng số 69/CT-VKSHC ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện
Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị
cáo đã thực hiện thấy rằng hành vi này không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội này của bị cáo.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị kết án
(đã xóa án tích) về hành vi trộm cắp nhưng vẫn tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ngay sau khi chiếm đoạt tài sản đã bị phát hiện và bắt quả tang, đã khắc phục bồi thường thiệt hại, bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tại phiên toà bị hại, đại diện hợp pháp của bị hai xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận
đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. [6] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng các vật chứng thu giữ trong vụ án như nêu trên đã đươc Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng với quy định tại khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đ. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật
hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Đ 01 (một) năm 03 tháng tù về tội "Trộm cắp tài
sản". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí:
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ngô Thị Đ phải chịu là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm
Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án TP Đà Nẵng. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- VKSND quận Hải Châu;
- Công an quận H;
- PHSNV CA quận H;
- Chi cục THA quận H;
- UBND xã T;
- Những người tham gia tố tụng;
Phan Thị H
- Lưu hồ sơ vụ án
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Tòa án TP Đà Nẵng. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa - VKSND thành phố Đà Nẵng; - VKSND quận Hải Châu; - Công an quận Hải Châu; - PHSNV CA quận Hải Châu; - Chi cục THA quận Hải Châu; - UBND xã Tịnh Hà; - Những người tham gia tố tụng; Phan Thị Huệ - Lưu hồ sơ vụ án HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Hội thẩm nhân dân Phạm Xoa Nguyễn Xuân Tùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Khắc Tường |