vanban.org

Bản án 97/2024/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 03/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

h nh sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Triều

V và giữ nguyên bản án s thẩm. Về án phí h nh sự phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Triều V - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? h nh sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Triều
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 38 Bộ luật H nh sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HSPT
Ngày: 03-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

ông Lê Văn Thường

Các thẩm phán:

ông Phạm Ngọc Thái

ông Phùng Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia

phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án

nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án h nh sự thụ lý số 55 2024 TLPT-HS ngày 24 tháng 0 năm 2024 đối v i bị cáo Nguyễn Triều V do c kháng cáo của bị cáo đối v i Bản án h nh sự s thẩm số 47 2023 HSST ngày 9 2 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Bị cáo c kháng cáo:

Nguyễn Triều V, sinh ngày 4 9 2004 tại tỉnh Gia Lai; n i cư trú:

Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; tr nh độ học vấn: 0 2; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 967 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 968; chưa c vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: bị Công an phường P, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 400.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng (đã nộp).

Bị tạm giữ từ ngày 07 3 2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm

giam Công an tỉnh G. C mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Triều V: Ông Trần Đại H là

luật sư của văn phòng luật sư Trư ng Thị P thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. C mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Đức S, sinh năm 200 ; địa chỉ: Thôn D, xã T,

thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được t m tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00’ ngày 04 3 2023, Lê Duy Đ (sinh năm 2005, trú

tại: A N, tổ G, phường T, Thành phố P) đi về nhà tại A N th bị Võ Long T2 (sinh năm 2005, trú tại 2 P, phường H, Thành phố P), Lê Anh N (sinh năm 2007, trú tại B N, phường H, Thành phố P) cùng một số đối tượng khác chặn đánh tại khu vực đường N, phường T, thành phố P.

Sau khi bị đánh, Lê Duy Đ gọi qua mạng xã hội M cho Trần Lê Đại

H1 nhờ đi đánh nh m của T2. H1 đồng ý rồi nhắn tin, gọi điện thoại qua mạng xã hội M cho Trần Duy T3 (tên gọi khác là Ku T4, sinh năm 2003, trú tại 7 T, Tổ B, phường C, Thành phố P), hẹn 24 giờ 00’ ngày 05 3 2023 hai nh m gặp tại đường P đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn.

Đến sáng ngày 05 3 2023, Trần Lê Đại H nhắn tin qua mạng xã

hội Facebook v i Trần Ngọc T5 (sinh năm 2006, trú tại: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai), Trư ng Quang H2 (sinh năm 2005, trú tại: C H, thôn D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Trư ng Đ nh M (sinh năm 2005, trú tại: Thôn E, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) rủ các nh m này tham gia đánh nhau v i Trần Duy T3 và Võ Long T2, hẹn 22 giờ cùng ngày chuẩn bị hung khí gặp nhau tại B đi đánh nh m T2 và T3. Sau đ , T5, M1 và H2 gọi thêm nhiều người khác tại huyện Đ, C và thành phố P hẹn tối cùng ngày đi đánh nhau. Đến khoảng 0 giờ 00’ cùng ngày, H1 cùng Nguyễn Văn H3 (sinh năm 999, trú tại Thôn A, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) đến chợ huyện C mua 0 con dao rựa mang về giấu tại bụi cây gần nhà H3. Sau đ , H1 đã mang 0 con dao rựa đến nhà trọ của T5 tại xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai, chờ đồng bọn đến đ n.

Khoảng 20 giờ 00’ cùng ngày, nh m bến xe gồm: Phan Văn R, Lê

Duy Đ, Mai Đức L (sinh năm 2004, trú tại 274 9 2 L, tổ G, P. T, thành phố P), Đỗ Đức T6, N1 (tên gọi khác là Nguyên bụi), P1 (tên gọi khác là Phúc lé), Lý H4 (tên gọi khác là H4 bò), T7 và Cu nhỏ (chưa rõ nhân thân lai lịch) tập trung tại bãi đất trống tại khu đô thị S trên đường L, phường T, Thành phố P. Cả nh m chuẩn bị nhiều hung khí là vỏ chai bia và dao tự chế mang theo, chờ nh m Trần Lê Đại H đến để đi đánh nhau v i nh m Trần Duy T3 và Võ Long T2.

Ngay lúc này, tại quán C trên đường N - P, các đối tượng Nguyễn

Anh H5, Nguyễn Triều V, Trư ng Đỗ Đ nh S , Trần Phong Đ (sinh năm 2005, trú tại Làng Ú, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai), Cao Lê H6 (sinh năm 2005, trú tại Thôn E, xã T, Thành phố P), Trư ng Đ nh M (sinh năm 2005, trú tại Thôn E, xã T, Thành phố P, tỉnh Gia Lai), Trư ng An B (sinh năm 2007, trú tại N, tổ E, phường I, Thành phố P, tỉnh Gia Lai), Trư ng B nh A, Nguyễn Thái Huy K (sinh năm 2006, trú tại N, Tổ , P.T, Thành phố P, tỉnh Gia Lai), Lê Khắc Đ2 (sinh năm 2006, trú tại Thôn G, xã A, Thành phố P, tỉnh Gia Lai), Mai Hoàng Phi L (sinh năm 2007, trú tại B L, tổ C, phường Đ, Thành phố P, tỉnh Gia Lai) cùng nhiều người khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) uống cà phê tại đây chờ đi đánh nhau cùng v i Trần Lê Đại H . Lúc này, H1 gọi điện thoại qua M cho Nguyễn Triều V hẹn gặp nhau tại khu vực cầu treo, xã B, thành phố P để đi đánh nhau.

Sau khi nhận được điện thoại của H1, các đối tượng V, H6, M1, A,

B, Huy K, Đ2, Phi L1 cùng nhiều người khác điều khiển xe mô tô đã cùng nhau đi đến khu vực cầu T. Còn Trần Phong Đ , Trư ng Đỗ Đ nh S , Đ (tên gọi khác là Cu B1) điều khiển xe mô tô đi đến xã H, huyện C đ n H1. Sau đ , S1 điều khiển xe mô tô WINER (xe của nh m Chư P2) chở H1 mang theo 10 con dao rựa, còn Trần Ngọc T5 gọi thêm khoảng 0 người khác tại huyện C mang theo hung khí là dao tự chế và cây ba chĩa cùng đến khu vực cầu treo xã B. Trên đường đi, H1 gọi điện thoại qua M cho Trư ng Quang H2 (sinh năm 2005, trú tại C H, thôn D, xã B, Thành phố P, tỉnh Gia Lai) hẹn gặp ở nhà H2. Biết H1 gọi đi đánh nhau nên H2 rủ thêm Trần Đỉnh L2 (sinh năm 2007, trú tại B L, thôn B, xã B, Thành phố P, tỉnh Gia Lai) đến đi cùng. Sau đ , cả nh m mang theo hung khí đi đến khu vực cầu T. Tại đây, H1 gọi điện thoại qua M cho Trần Duy T3, Võ Long T2 và Phạm Đức S thách thức đánh nhau. Ngay lúc này, các đối tượng c mặt tại đây đều tự nhặt lấy hung khí được chuẩn bị sẵn là dao rựa, gậy, dao tự chế,ba chĩa... mang theo. S1 điều khiển xe mô tô WINER chở H1 cầm một khẩu súng G (súng bắn đạn cao su) chạy trư c dẫn đường; Nguyễn Anh H5 điều khiển xe WINER (BKS: 8 B2-36022) chở V cầm 0 (một) cây ba chĩa và một b nh xịt h i cay. Trên đường đi, H1 tiếp tục gọi điện thoại qua M cho Phan Văn R th biết nh m bến xe đã chuẩn bị xong nên H1 đã hẹn cùng gặp nhau ở ngã ba đường P - P. Trên đường đi, c thêm các đối tượng Nay Anh H7 (sinh năm 2006, trú tại B T, P.T, Thành phố P), Lư ng Tấn H8 (sinh năm 2006, trú tại G, nhà C, tổ A, phường P, Thành phố P) và Lê K (chưa rõ nhân thân lai lịch) cùng tham gia.

Khoảng 23 giờ 00’ cùng ngày, khi nh m Trần Lê Đại H đi đến khu

vực ngã ba Hoa Lư th gặp nh m Bến xe do Phan Văn R cầm đầu đi hư ng ngược chiều đến. Tại đây, nh m Bến xe đưa thêm nhiều hung khí là dao tự chế cho những người trong nh m của H1. Lúc này, Lê Duy Đ thông báo“Bọn n đang ở đường T” nên H1 cùng cả nh m mang theo hung khí đi đến ngã tư L trên đường T để t m đánh nh m Trần Duy T3 nhưng không gặp. Nghe Phan Văn R n i “Chúng n đang tập trung tại nhà Ku T8” th S1 điều khiển xe mô tô chở H1 đi trư c dẫn đường, cùng cả nh m đến chợ C2. Trên đường đi vào nhà Trần Duy T3, phát hiện thấy Phạm Đức S, Lê Anh N, Võ Long T2 và nhiều đối tượng khác, H1 hô “Bọn n k a”. Thấy nh m H1 đông người và mang theo nhiều hung khí nên Phạm Đức S điều khiển xe mô tô BKS: 8 B3-3 0. 4 cùng v i mọi người bỏ chạy vào trong đường hẻm chợ C2. Thấy vậy, H1 đã dùng súng Gloock bắn hai phát về phía S nhưng không trúng. Ngay lúc đ , S1 điều khiển xe W chở H1, H5 điều khiển xe Winer chở V cầm một cây ba chĩa và b nh xịt h i cay cùng v i một số người khác đuổi theo. Khi đuổi theo S trong hẻm chợ C2, H1 tiếp tục dùng súng bắn về phía S một phát nhưng không trúng. Lúc đ , chỉ còn H1, S1, H5 và V đuổi theo kịp S. Các đối tượng còn lại không đuổi kịp nên đã tập trung lại tại khu vực đường T. Còn H1, S1, V và H5 đuổi theo S qua đường T đến đường H. Khi đuổi đến trư c số nhà A - A H, phường H, Thành phố P, tỉnh Gia Lai th đuổi kịp S. H5 điều khiển xe chạy đến sát phía bên trái xe của S, còn V dùng cây ba chĩa (dài ,6m, c ba răng sắc nhọn dài 20cm) đâm một nhát về phía S nhưng không trúng. H5 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở V chạy lên áp sát xe của S, đồng thời Vỹ hai tay cầm cây ba chĩa đâm tiếp một nhát từ trái qua phải theo phư ng ngang trúng vào đầu của S, làm thủng mũ bảo hiểm đang đội và làm S bị thư ng ở vùng đầu. Sau khi bị V đâm, S tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Thấy vậy, nên S1 và H1 không đuổi theo S nữa, còn H5 và V tiếp tục đuổi đến ngã ba đường L - H th bị ngã xe do không đuổi kịp S nên H5 chở V quay lại.

Lúc này, Trần Lê Đại H gọi điện thoại cho những người trong

nh m, rồi tập trung lại tại khu vực công viên N, Thành Phố P. Sau đ , H1 cùng cả nh m mang theo hung khí đi đến khu vực công viên K t m đánh nh m Võ Long T2 nhưng không gặp nh m của T2 nên cả bọn mang theo hung khí đến khu vực bờ kè phía sau chùa M2 tập trung lại và gom hung khí để cho nh m Bến xe mang về cất giấu, rồi giải tán.

Đến ngày 07 3 2023 và ngày 20 3 2023, Nguyễn Triều V, Nguyễn

Anh H5, Trư ng Đỗ Đ nh S đến C quan CSĐT Công an thành phố P đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngày 08 4 2023, C quan CSĐT Công an thành phố P ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối v i Trần Lê Đại H để điều tra.

Đối v i Phạm Đức S, sau khi bị đâm đã được đưa đến Bệnh viện đa

khoa Thành phố P nhập viện, điều trị thư ng tích. Tại Giấy chứng nhận thư ng tích số 07 ngày 4 3 2023, Bệnh viện đa khoa Thành phố P, xác nhận thư ng tích của Phạm Đức S tại thời điểm nhập viện:“Vết thư ng vùng thái dư ng trái, rách da kích thư c khoảng 0,5cm, sâu lộ rõ xư ng hộp sọ”.

Tại Bản kết luận giám định tổn thư ng c thể trên người sống số

137/KLTTCT-TTPY ngày 6 3 2023, Trung tâm Pháp y tỉnh G đối v i Phạm Đức S, kết luận:

“ . Các kết quả chính: 0 sẹo vết thư ng phần mềm vùng thái

dư ng trái

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22 20 9 TT-BYT ngày 28 8 20 9

của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể của Phạm Đức S tại thời điểm giám định là % (Một phần trăm), áp dụng phư ng pháp cộng tại thông tư.

3. Kết luận khác:

- C chế: Do sự tác động trực tiếp.

- Xác định vật gây thư ng tích: Phù hợp v i sự tác động của vật c

mũi nhọn.”

* Vật chứng của vụ án đã thu giữ:

0 mũ bảo hiểm màu trắng đen, c dòng chữ QUATEST bị 0 vết

nứt dài 20cm phía bên trái cách lỗ thông h i của mũ 3,5cm về phía sau; tại vị trí phía trên lỗ thông h i trái của mũ c dính chất màu đỏ bám dính kích thư c ( 2x4)cm; 0 vết rách xuyên thấu tại phần nhựa (lưỡi trai) kích thư c 0 cm.

Quá tr nh điều tra và khám xét khẩn cấp, C quan CSĐT đã tiến

hành thu giữ những đồ vật sau:

- 0 (một) dao tự chế, dài 53,3cm, c lưỡi làm bằng kim loại, dài

38,5cm, chỗ rộng nhất kích thư c 4,2cm, cán làm bằng gỗ.

- 0 (một) dao tự chế, dài 5 cm, c lưỡi làm bằng kim loại, dài

36cm, chỗ rộng nhất kích thư c 3,5cm, cán làm bằng gỗ.

- 0 (một) dao tự chế, dạng kiếm, dài

,3cm, c lưỡi làm bằng kim loại, dài 77,5cm, rộng 2,8cm, cán làm bằng gỗ.

- 0 (một) dao tự chế, dạng ph ng lợn, dài 223cm, c lưỡi làm bằng

kim loại, dài 2 cm, cán làm bằng kim loại, h nh trụ tròn, đường kính 2,5cm.

- 0 (một) dao tự chế, dài 222,3cm, c lưỡi làm bằng kim loại, dài

62cm, cán làm bằng kim loại, h nh trụ tròn đường kính 2,5cm.

- 0 (một) dao tự chế, dạng ba chĩa, dài 329cm, phần ba chĩa dài

64,5cm làm bằng kim loại, cán làm bằng kim loại, h nh trụ tròn đường kính 2,5cm.

- 0 (một) dao tự chế, dài 2 ,5cm, c lưỡi làm bằng kim loại, dài

61cm, cán làm bằng kim loại, h nh trụ tròn đường kính 2,5cm.

- 0 (một) dao tự chế, dài 2 cm, c lưỡi làm bằng kim loại, dài

6 ,5cm, cán làm bằng kim loại, h nh trụ tròn đường kính 2,5cm.

- 0 (một) dao tự chế, dạng ph ng lợn, dài 247,8cm, c lưỡi làm

bằng kim loại, dài 2,5cm, cán làm bằng kim loại, h nh trụ tròn đường kính 2cm.

- 0 (một) súng ngắn, bằng kim loại, màu đen, trên thân súng c các

ký tự “LOCK 9 AUSTRIA 9x 9 KUZEY-GN19 MADE IN TURKEY K4YKZG1YS01-2 0 3 5 Cal 9mm P.A.K” bên trong c hộp tiếp đạn bằng kim loại, màu đen; 05 viên đạn nằm trong hộp tiếp đạn của khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen.

- 0 khẩu súng ngắn dạng ổ xoay (R) bằng kim loại.

- 02 (hai) b nh xịt, màu vàng đen, h nh trụ tròn, cao 23cm, đường

kính 6,4cm, thân b nh c các ký tự “TAKE DOWN”.

- 02 (hai) b nh xịt, màu đen, h nh trụ tròn, cao 4cm, đường kính

3,3cm, thân b nh c các ký tự “MADE IN U.S.A POLICE”.

Đối v i cây gậy ba chĩa do Nguyễn Triều V sử dụng đâm Phạm

Đức S sau đ giao cho Lê Duy Đ mang về cất giấu, C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành truy t m nhưng không thu giữ được.

C quan điều tra đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh G giám định

dấu vết nghi máu trên mũ bảo hiểm.

Tại Kết luận giám định số 28 KL-KTHS ngày 20 3 2023, Phòng K2

Công an tỉnh G, kết luận:

Trên mũ bảo hiểm màu trắng đen kích thư c (20,5x26,5), trên mũ

c dòng chữ QUATEST (Mẫu ký hiệu A ) trong hộp giấy các tông niêm phong gửi giám định c máu người, nh m máu A.

Mẫu máu trong ống nghiệm bằng nhựa ghi thu máu Phạm Đức S:

Nh m máu A.

Đối v i 02 khẩu súng, 05 viên đạn và 02 b nh xịt h i cay đã thu giữ,

C quan điều tra đã trưng cầu Phân viện Khoa học h nh sự tại Thành phố Đà Nẵng giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 700 KL-KTHS ngày 2 4 2023,

Phân viện Khoa học h nh sự tại Thành phố Đà Nẵng, kết luận:

“- Khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen gửi giám định là súng

Glock 9 bắn đạn cao su, đạn h i cay, đạn nổ (uy hiếp) cỡ (9 x 22)mm; hiện tại khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc công cụ hỗ trợ.

- Khẩu súng ngắn dạng súng ổ xoay (ru lô) bằng kim loại gửi giám

định là súng tự chế tạo bắn đạn cao su, đạn h i cay, đạn nổ (uy hiếp) cỡ (9 x 22)mm; hiện tại khẩu súng sử dụng bắn được và thuộc công cụ hỗ trợ.

- 05 viên đạn nằm trong hộp tiếp đạn của khẩu súng ngắn bằng kim

loại, màu đen là đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, hiện tại còn sử dụng được và thuộc công cụ hỗ trợ. Đạn cao su cỡ (9 x 22)mm sử dụng được cho 02 khẩu súng nêu trên.

- Ký tự trên hai khẩu súng gửi giám định:

+ Khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen c các ký tự là:

“GLOCK KUZEY GN 9 MADE IN TURKEY K4YKZG YS0 - 2 0 3 5 Cal. 9mm. P.A.K” (bên phải kh a nòng); “K4YKZG YS0 - 2 0 3 5” (bên phải nòng súng),“GLOCK 9 AUSTRIA 9x 9” (bên trái kh a nòng súng).

+ Khẩu súng ngắn dạng súng ổ xoay (ru lô) bằng kim loại c các ký

tự là: “ 9TH0586” (bên phải thân súng), “FSOPEN (bên trái thân súng)”. Không phát hiện thấy dấu vết đục phá, sửa chữa các ký tự trên hai khẩu súng nêu trên.”

Tại Bản án h nh sự s thẩm số 47 2023 HSST ngày 9 2 2023 của

Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Triều V phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Triều V 9 (chín) năm tù. Thời hạn chấp

hành h nh phạt tù tính từ ngày 07 3 2023.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng,

án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25 2 2023 bị cáo Nguyễn Triều V kháng cáo xin giảm h nh

phạt.

Luật sư đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo Nguyễn Triều V.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Triều V và giữ nguyên bản án s thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ s vụ

án và quá tr nh tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp v i lời khai của bị cáo

c trong hồ s vụ án và phù hợp v i các chứng cứ khác nên c đủ c sở xác định:

Dù không c mâu thuẫn từ trư c nhưng khi nghe bạn m nh bị đánh

và được nhờ đi đánh nhau th Trần Lê Đại H đã đồng ý, H1 đã rủ đồng bọn và trực tiếp chuẩn bị dao rựa là hung khí nguy hiểm để đánh nhau. Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 05 3 2023, H1 cùng v i Nguyễn Triều V, Nguyễn Anh H5, Trư ng Đỗ Đ nh S và đồng bọn sử dụng xe mô tô, mang theo hung khí là súng, vỏ chai bia, dao, tuýp sắt, dao tự chế, gậy ba chĩa… tập trung đông người nhằm mục đích đánh nh m của Võ Long T2 để giải quyết mâu thuẫn. Khi phát hiện thấy anh Phạm Đức S là người trong nh m của T2 nên H1, V, H5 và S1 cùng nhiều đối tượng khác mang theo hung khí đuổi đánh anh S trên nhiều tuyến đường trong thành phố P. Trong khi đuổi đánh anh S, H1 đã dùng súng bắn 03 phát nhưng không trúng người anh S, đến khi H1, V, H5 và S1 đuổi kịp, V đã dùng cây ba chĩa đâm hai nhát, trong đ c một nhát trúng vào đầu S gây ra vết thư ng vùng thái dư ng trái, rách da kích thư c khoảng 0,5cm, sâu lộ rõ xư ng hộp sọ gây tổn hại 0 % sức khỏe.

Do đ , Bản án h nh sự s thẩm số 47 2023 HSST ngày 9 2 2023

của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xét xử bị cáo về tội “Giết người” v i t nh tiết định khung “C tính chất côn đồ” theo điểm n khoản Điều 23 Bộ luật H nh sự là c căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt của bị cáo Nguyễn Triều

V,

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm

tính mạng của bị hại, gây mất trật tự trị an.

Đây là vụ c đồng phạm c tính chất giản đ n. Trong đ , bị cáo

Trần Lê Đại H dù không c mâu thuẫn g v i bị hại nhưng khi được nhờ đi đánh nhau th bị cáo thực hiện v i rất tích cực, bị cáo đã rủ rê các đối tượng khác cùng thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp liên lạc v i nh m của bị hại để khiêu khích và hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn, trực tiếp chuẩn bị dao rựa là hung khí nguy hiểm cho các đối tượng khác, sử dụng súng bắn ba phát về phía bị hại. Các bị cáo Nguyễn Triều V, Nguyễn Anh H5 và Trư ng Đỗ Đ nh S sau khi được rủ đã cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội, trong đ bị cáo V giữ vai trò là người thực hành, thực hiện hành vi tích cực, bị cáo sử dụng cây ba chĩa đâm hai lần vào bị hại, trong đ một lần trúng vào vùng đầu và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vết thư ng vùng thái dư ng trái, rách da, sâu lộ rõ xư ng hộp sọ gây tổn hại 0 % sức khỏe cho bị hại.

Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Trong quá tr nh điều tra

và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động để gia đ nh bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại Phạm Đức S đã c đ n xin bãi nại, đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo V sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng các quy định tại điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 của Bộ luật H nh sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân

bị cáo, Tòa án cấp s thẩm đã xử phạt bị cáo V 9 năm tù là phù hợp, c tác dụng răn đe và ngăn ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự nào khác.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp

nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Triều V, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giữ nguyên bản án s thẩm về phần h nh phạt đối v i bị cáo.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị

quyết số 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án th bị cáo Nguyễn Triều V phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự

phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án h nh sự s thẩm không bị kháng

cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố

tụng

h nh sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Triều

V và giữ nguyên bản án s thẩm.

2. Áp dụng điểm n khoản Điều 23; điểm b, s khoản , khoản 2

Điều 5 , Điều 38 Bộ luật H nh sự của Bộ luật H nh sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Triều V 09 (C) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 07 3 2023.

3. Về án phí h nh sự phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23

của Nghị quyết số 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Triều V phải chịu 200.000 (hai trăm ngh n) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án h nh sự s thẩm không bị kháng

cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ