vanban.org

Bản án 97/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Hồ Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/11/2023. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ kí ghi tên Hồ Văn P và hình dấu của Công an Phường 5, quận Gò Vấp, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) gói thuốc lá h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST
Ngày: 20 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Hồng Phương.

2. Ông Trần Quốc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Hồ Văn P, sinh năm 1992, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú: Ấp B, xã C, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre; Nơi ở hiện nay: Số 368/70 đường D, phường E, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn H và bà Nguyễn Thị L; Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; tạm giữ, tạm giam ngày: 17/112023; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 40 phút, ngày 16/11/2023, Hồ Văn P đang ở tại phòng trọ nhà số 368/70 đường Tân Sơn Nhì, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú dùng điện thoại di động gắn sim số 0939274953 gọi Zalo đến số điện thoại 0772603857 của nam thanh niên tên “Cô” (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy tổng hợp nhưng nam thanh niên tên “Cô” không nghe máy nên Hồ Văn P nhắn tin “Cứu anh 2x với cây nỏ được không em, anh khổ quá. Được anh qua không thì anh em lúc khác”. Khoảng 03 phút sau thì thanh niên tên “Cô” gọi Zalo lại thì Hồ Văn P hỏi mua ma túy tổng hợp cùng 01 nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) với giá tiền 200.000 đồng thì “Cô” đồng ý bán và hẹn gặp nhau tại ngã ba đường Trần Bá Giao và đường số 20, Phường 5, quận Gò Vấp để giao ma túy và nhận tiền, Hồ Văn P đồng ý. Sau khi nghe điện thoại xong, Hồ Văn P đặt xe ôm Grab đến điểm hẹn đứng đợi được một lúc thì thấy thanh niên tên “Cô” đi bộ đến. Tại đây Hồ Văn P đưa ra số tiền 200.000 đồng rồi thanh niên tên “Cô” đưa cho Hồ Văn P gói thuốc lá bên ngoài có dán 01 miếng giấy gấp đôi, Hồ Văn P kiểm tra thì bên trong miếng giấy có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, bên trong gói thuốc lá có 01 nỏ thủy tinh rồi thanh niên tên “Cô” bỏ đi. Hồ Văn P cầm gói thuốc lá trên tay phải đi bộ đến trước nhà số 186 Đường số 20, Phường 5, Gò Vấp để đặt xe ôm Grab về phòng trọ nhưng xe Grab chưa đến thì tổ tuần tra 363 Công an quận Gò Vấp đến kiểm tra và phát hiện bắt quả tang đối với Hồ Văn P như đã nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 1294/KL-KTHS ngày 23/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1351 gam (không phẩy một ba năm một gam), loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: tinh thể không màu có khối lượng 0,0742 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung số sim 1: 0939274953, số sim 2: 0399831936.

- 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet.

- 01 (một) nỏ thủy tinh;

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng, chuyển theo hồ sơ để xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKS-GV, ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Hồ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Hồ Văn P từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ qua giám định là tinh thể không màu có khối lượng 0,0742 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung số sim 1: 0939274953, số sim 2: 0399831936 là tài sản của Hồ Văn P sử dụng để liên lạc mua ma túy.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet và 01 (một) nỏ thủy tinh là vật chứng vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Lúc 01 giờ 40 phút, ngày 16/11/2023, bị can Hồ Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1351 gam (không phẩy một ba năm một gam), loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân tại trước nhà số 186 Đường số 20, Phường 5, Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: không có.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với ma túy thu giữ qua giám định là tinh thể không màu có khối lượng 0,0742 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, loại Methamphetamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung số sim 1: 0939274953, số sim 2: 0399831936 là tài sản của Hồ Văn P và sử dụng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet và 01 (một) nỏ thủy tinh là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp tiếp tục xác minh, điều tra khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/11/2023.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ kí ghi tên Hồ Văn P và hình dấu của Công an Phường 5, quận Gò Vấp, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet; 01 (một) Nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung số sim 1: 0939274953, số sim 2: 0399831936.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 46/PNK ngày 28/02/2024 của Công an quận Gò Vấp)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ