- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kiều M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/3/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Tỏ
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Trần Thị Kiều M, sinh năm: xxxx (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố H.
* Bị đơn: Nguyễn Văn C, sinh năm xxxx (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R, xã B, huyện G, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Kiều M trình bày:
Chị M và anh C do quen biết, có tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng kí kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C suốt ngày cờ bạc, bao nhiêu tiền kiếm được đều đánh bạc hết, sinh ra nợ nần, chị M đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh C không nghe mà dẫn đến cải vã trầm trọng, giữa anh chị không còn tiếng nói chung, tính tình không hợp, đến tháng 6 năm 2022 chị M đã về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị M yêu cầu ly hôn với anh C.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị M mặc dù Tòa đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh C.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến: - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kiều M, cho chị Trần Thị Kiều M được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trần Thị Kiều M yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn C, sinh năm xxxx, tạm trú tại ấp R, xã B, huyện G, tỉnh T nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến của anh C đối với yêu cầu khởi kiện của chị M nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn C.
Nguyên đơn chị Trần Thị Kiều M có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị Kiều M.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh C có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị M, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên nhân là do anh C suốt ngày cờ bạc, bao nhiêu tiền kiếm được đều đánh bạc hết, sinh ra nợ nần, chị M đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh C không nghe mà dẫn đến cải vã trầm trọng, giữa anh chị không còn tiếng nói chung, tính tình không hợp, đến tháng 6 năm 2022 chị M đã về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị M yêu cầu ly hôn với anh C. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho anh C biết yêu cầu ly hôn của chị M nhưng anh C vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không quan tâm đến kết quả giải quyết vụ án ly hôn của anh với chị M như thế nào. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M với anh C là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị Kiều M có yêu cầu ly hôn nên chị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kiều M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều M và anh Nguyễn Văn C được ly hôn.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Kiều M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013138 ngày 05/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, Chị Trần Thị Kiều M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa và kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.GCĐ; - CC.THADS H.GCĐ; - UBND xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ, TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diễm Trinh |