- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Đ và ông Y"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc Đ đối với ông Nguyễn Văn Y. Bà Phan Thị Ngọc Đ1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn Y.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-9-2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cái Thị Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân
2. Bà Nguyễn Xuân Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Bà Đ có đơn xin vắng mặt, ông Y vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 10 năm 2024 và các l i khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc Đ trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Y chung sống vào năm 2003 đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, thời gian gần đây thường phát sinh mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hàng ngày, ông Y thường hay ghen bóng ghen gió, có khi còn đập điện thoại, la mắn bà. Bà và ông Y đã sống ly thân từ 7-2023 đến nay, có gặp nhau nhưng không thể bàn việc đoàn tụ, hàn gắn gia đình được. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình nên bà Đ xin ly hôn với ông Y.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 24-8-2004. Hiện cháu H đã thành niên và có gia đình tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn Y không đến Tòa, không có l i trình bày, vắng mặt không lý do.
Tại phiên toà:
Tại tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị tuyên:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc Đ đối với ông Nguyễn Văn Y.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 24-8-2004. Con chung đã trưởng thành có cuộc sống riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Đ phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Phạm Thị Ngọc Đ có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Văn Y là bị đơn trong vụ án vắng mặt không lý do. Căn cứ vào biên bản xác minh của Tòa án ngày 04 tháng 6 năm 2024 thì hiện tại ông Y có hộ khẩu tại tổ H, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, hiện tại ông Y vẫn còn sinh sống tại địa chỉ trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự mời ông Y lên Tòa làm việc nhưng ông không đến cũng như không có lời khai về vụ án, ông Y thường xuyên vắng mặt tại địa phương vào giờ hành chính, Tòa án có tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nên Hội đồng x t xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành x t xử vắng mặt đối với bà Đ và ông Y là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông Nguyễn Văn Y chung sống vào năm 2003 đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, thời gian gần đây thường phát sinh mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hàng ngày, ông Y thường hay ghen bóng ghen gió, có khi còn đập điện thoại, la mắng. Bà và ông Y đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay, có gặp nhau nhưng không thể bàn việc đoàn tụ, hàn gắn gia đình được. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình nên bà Đ xin ly hôn với ông Y.
X t yêu cầu xin ly hôn của bà Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng chung sống cần có sự gần nhau, chia sẻ, đồng cảm, quan tâm chăm sóc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và cùng có trách nhiệm với gia đình, con cái. Trong mối quan hệ vợ chồng của bà Đ, ông Y không còn sự chia sẻ và đồng cảm, không hiểu nhau, không còn tình cảm, không hạnh phúc, thời gian sống ly thân của ông bà đã lâu không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng được. Hiện bà Đ, ông Y không còn tình cảm với nhau, không thương yêu nhau nên yêu cầu xin ly hôn của bà Đ là có căn cứ chấp nhận.
Ông Y không đến Tòa, không có lời trình bày, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa cho ông Y, ông Y có nhận được văn bản của Tòa nhưng ông không đến Tòa là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 24-8-2004. Con chung đã trưởng thành có cuộc sống riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hô i đồng x t xử không xem xét.
Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Đ phải chịu án phí theo quy định tại điển a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc Đ đối với ông Nguyễn Văn Y. Bà Phan Thị Ngọc Đ1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn Y.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 24-8-2004. Con chung đã trưởng thành có cuộc sống riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà Đ1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Đ đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008953 ngày 12 tháng 13 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, bà Đ đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - THA huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cái Thị Minh Tâm |