vanban.org

Bản án 97/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Lê Thị L đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015098, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu. Trường…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 9 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Thành.

2. Bà Bùi Ngọc Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Thật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Ngoan - Kiềm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1978 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/7/2024, cùng các văn bản khác kèm theo nguyên đơn là bà Lê Thị L trình bày:

Về hôn nhân, bà (Lê Thị L) và ông Hồ Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, về sau vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cải, tính tình cả hai không còn phù hợp, ông Thôn sống không chung thủy, không lo lắng cho gia đình. Gia đình hai bên có hoà giải, hàn gắn nhiều lần nhưng không mang lại kết quả. Hiện tại bà và ông Hồ Văn T không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay mà không thể hòa giải, hàn gắn. Bà nhận xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Văn T. Về con chung có 02 người tên là Hồ Vũ E (giới tính nam) sinh ngày 20/6/1996 và Hồ Văn B (giới tính nam), sinh ngày 21/02/2005. Hiện Hồ Vũ E đã có gia đình có cuộc sống riêng, Hồ Văn B đã thành niên, có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không có yêu cầu về con chung. Về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có yều cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại biên bản làm việc ngày 19 tháng 8 năm 2024. bị đơn là ông Hồ Văn T trình bày:

Về hôn nhân bà Lê Thị L trình bày là đúng, ông và bà Lê Thị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn. Ông và bà Lê Thị L đã không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay mà không thể hàn gắn, ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Lê Thị L. Con chung đúng là có 02 người như bà Lê Thị L trình bày, con chung đều trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do điều kiện công việc nên ông yêu cầu được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, không công nhận bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T là vợ chồng; về con chung đã trưởng thành không đặt ra xem xét giải quyết; về tài sản chung, nợ chung các đương sự không có không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Thị L phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bà Lê Thị L yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là bà Lê Thị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

Bị đơn là ông Hồ Văn T vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[2]. Xét về hôn nhân: Bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2012 đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, thường xuyên tranh cãi, cả hai không còn chung sống với nhau mặc dù đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Lê Thị L yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn T. Ông Hồ Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai chứng cứ để Tòa án xem xét cho thấy ông Hồ Văn T không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do hôn nhân giữa bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Căn cứ vào các điều 9, 14 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T không được công nhận là vợ chồng.

[3]. Về con chung, bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T cùng xác định có 02 người tên là Hồ Vũ E (giới tính nam) sinh ngày 20/6/1996 và Hồ Văn B (giới tính nam), sinh ngày 21/02/2005 đều đã trưởng thành. Hiện Hồ Vũ E đã có gia đình có cuộc sống riêng, Hồ Văn B đã thành niên, có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không có yêu cầu về con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết là phù hợp.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị L, ông Hồ Văn T không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Thị L phải chịu chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị L và ông Hồ Văn T là vợ chồng.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Lê Thị L đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015098, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ