vanban.org

Bản án 97/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Y có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền vốn gốc là 59.718.858 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm mười tám ngàn, tám trăm năm mươi tám đồng) và tiền lãi là 16.574.862 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm bảy mươi bốn ngàn, tám trăm sáu mươi hai đồng). Tổng số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 97/2024/DS-ST
Ngày: 29/8/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ;

2. Bà Mai Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 216/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1);

Trụ sở: 2 N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Giang C – chức vụ: Trưởng phòng giao dịch C - An Giang.

* Ông Nguyễn Giang C uỷ quyền lại cho ông Võ Thanh T, sinh năm 1985 - chức vụ: Phó phòng giao dịch C - An Giang; Địa chỉ: Số D L, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. (Theo giấy ủy quyền ngày 25/4/2024); (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1989; (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phầS (TMCP ) do ông Võ Thanh T làm đại diện theo ủy quyền trình bày:

Căn cứ giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Ngân hàng) chi nhánh A – Phòng G với bà Nguyễn Thị Y. Theo đó, Ngân hàng có cấp cho bà Y hạn mức thẻ với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Nội dung chi tiết như sau:

- Mục đích mở thẻ: tiêu dùng.

- Dư nợ thẻ: 59.718.858 đồng (Bao gồm: dư nợ đầu kỳ: 52.266.018 đồng, lãi trong hạn: 5.817.726 đồng, phí trễ hạn: 1.373.573 đồng, phí VHM: 261.541 đồng).

- Tài sản bảo đảm: Không.

- Thời gian ngưng thanh toán: tháng 10/2023.

- Đến nay ngày 24/4/2024 thì bà Y còn nợ thẻ tín dụng với số tiền là 65.821.046 đồng, trong đó vốn là 59.718.858 đồng, lãi và phí: 6.102.188 đồng.

Đến thời điểm hiện tại, bà Y không còn thanh toán cho Ngân hàng, việc này đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký, ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc nhưng không có kết quả.

Tính đến ngày 24/4/2024, bà Y còn nợ Ngân hàng số tiền là: 65.821.046 đồng, trong đó vốn là 59.718.858 đồng, lãi và phí: 6.102.188 đồng.

Do đó, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bao gồm: Buộc bà Nguyễn Thị Y phải trả cho Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền là 65.821.046 đồng (Sáu mươi lăm triệu, tám trăm hai mươi mốt ngàn, không trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó vốn là 59.718.858 đồng, lãi và phí: 6.102.188 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 25/4/2024 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân giữa Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh A – Phòng G với bà Nguyễn Thị Y.

* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị Y để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng bà Y đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Toà án đã tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai bị đơn tại nơi cư trú nhưng bà Y không có mặt ở nhà khi cán bộ Toà án đến, nên Toà án không lấy được lời khai của bị đơn.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn ông Võ Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Y vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

+ Về việc giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị Y đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Y phải trả số tiền gốc là 59.718.858 đồng và lãi quá hạn là 16.574.862 đồng tính đến ngày 29/8/2024, tính lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 30/8/2024 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh A – Phòng G với bà Nguyễn Thị Y. Về án phí, hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn bà Y phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: bà Nguyễn Thị Y hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Y được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 07/8/2024, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn – ông Võ Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S thấy:

Về nghĩa vụ trả nợ:

Căn cứ giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 10/02/2024 được ký kết giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Y và điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng, thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng, có chữ ký và chữ viết xác nhận của bà Nguyễn Thị Y. Xét thấy, sự thoả thuận giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Y là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của thoả thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật Dân sự, nên được xem là hợp pháp, qua đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…” và Điều 280 Bộ luật Dân sự quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”.

Xét bị đơn – bà Nguyễn Thị Y đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng và điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ của Ngân hàng. Do đó việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Y phải có nghĩa vụ trả số tiền vốn gốc là 59.718.858 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

Về lãi suất: Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bà Y phải trả lãi quá hạn là 16.574.862 đồng tính đến ngày 29/8/2024, tính lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 30/8/2024 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Y, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự quy định: “… 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.

Căn cứ Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ Điểm 5.5 Điều 5 Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng cá nhân quy định: “Thanh toán sẽ áp dụng theo thứ tự sau: các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước …”.

Căn cứ Điểm 5.2 Điều 5 Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ cá nhân quy định: “Chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán đầy đủ dư nợ cho S1…”.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Y phải trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 29/8/2024 là 16.574.862 đồng và buộc bà Y phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi thỏa thuận tại giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 10/02/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP S là có cơ sở chấp nhận.

Tổng cộng vốn gốc và lãi là: 59.718.858 đồng + 16.574.862 đồng = 76.293.720 đồng.

Như vậy, bà Y phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền vốn và lãi là: 76.293.720 đồng (Bảy mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi ba ngàn, bảy trăm hai mươi đồng).

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Bị đơn bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 227, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, khoản 1 Điều 466, Điều 280 Bộ luật Dân sự;

Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Y có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền vốn gốc là 59.718.858 đồng (Năm mươi chín triệu, bảy trăm mười tám ngàn, tám trăm năm mươi tám đồng) và tiền lãi là 16.574.862 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm bảy mươi bốn ngàn, tám trăm sáu mươi hai đồng). Tổng số tiền vốn gốc và lãi phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm (29/8/2024) là 76.293.720 đồng (Bảy mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi ba ngàn, bảy trăm hai mươi đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ được ký kết ngày 10/02/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

2. Về án phí sơ thẩm:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền 1.645.000 đồng (Một triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004689 ngày 03/6/2024 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Thị Y phải chịu 3.814.686 đồng (Ba triệu, tám trăm mười bốn ngàn, sáu trăm tám mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bị đơn bà Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh An Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Châu Thành;

- Chi cục THADS huyện Châu Thành;

- Các đương sự;

- Phòng KTNV & THA;

- Lưu HS, VP.

Ngô Thị Kim Quyên ................................................................................................................................. (29 ) Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp

dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ