vanban.org

Bản án 97/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Cố ý gây Th tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (06/5/2023). Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 14 (mười bốn) mảnh vở thủy tinh trong suốt, hình dạng phức tạp, là v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Cố ý gây Th tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 97/2023/HS-ST
Ngày: 13/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Luân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 108/2023/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:117/2023/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M – sinh năm 1995; Nơi cư trú: số 107, đường Nguyễn Trường T , phường Vĩnh Th , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Hương (đã chết) và bà Thái Thị Phương; Tiền án, tiền sự: không có; Ngày 06/5/2023, thực hiện hành vi cố ý gây Th tích và bị tạm giữ; Đến ngày 08/5/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, tạm giam để điều tra; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Phạm Văn Tr – sinh năm 1990 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Xẻo C , xã Bàn Tân Đ , huyện Giồng R , tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

Vũ Văn Đ – sinh năm 1977 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Trụ sở Công an phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Nguyễn Thị L – sinh năm 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: số 79, đường Lê Thị Hồng G , phường Vĩnh Th, thành phố Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

Nguyễn Thị K – sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: số 107, đường Nguyễn Trường T , phường Vĩnh Th , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

Nguyễn Thị Th – sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: số 107, đường Nguyễn Trường T , phường Vĩnh Th , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn M , do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 17/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng M bỏ trốn. Công an thành phố Rạch Giá ra Quyết định truy tìm số 23/QĐ-TT ngày 28/6/2021 đối với M . Ngày 06/5/2023, nhận được thông tin M về nhà để thắp hương cho cha, Trung tá Vũ Văn Đ – chức vụ: Trưởng Công an phường Vĩnh Thanh trực chỉ huy phân công Đại úy Phạm Văn Tr – Cán bộ Tổ phòng chống tội phạm Công an phường Vĩnh Thanh cùng đến nhà của M để nắm tình hình. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi xác định được M đang có mặt tại nhà địa chỉ số 107, đường Nguyễn Trường T , phường Vĩnh Th , thành phố Rạch G thì đồng chí Trọn và đồng chí Đ vận động, khống chế nên M vùng vẫy nhằm để tẩu thoát ra đến trước nhà địa chỉ số 93, đường Lê Thị Hồng G , phường Vĩnh Th, thành phố Rạch G thì bị đồng chí Đ và đồng chí Tr khống chế, giữ lại được. Lúc này, M ngồi trên ghế đá và kêu chị ruột tên Nguyễn Thị Th đang ở trong nhà địa chỉ số 107, đường Nguyễn Trường T , phường Vĩnh Th , thành phố Rạch G đem nước cho M uống, Th lấy cái ly bằng thủy tinh (loại ly có quai cầm) đựng nước đem ra đưa cho M , đồng chí Đ ngăn cản do sợ M sử dụng ly bằng thủy tinh để chống trả, trong lúc ngăn cản thì M giằng co làm bể ly, M dùng tay phải cầm quai ly bị bể (vật sắc nhọn) đâm về phái đồng chí Tr bị Th tích ở vùng bụng, tay, chân. Sau đó đồng chí Đ và đồng chí Tr tiếp tục khống chế M và điều động thêm lực lượng Công an phường Vĩnh Thanh đến hỗ trợ đưa M về trụ sở làm việc, đồng chí Tr được đưa vào Trung tâm y tế phường Vĩnh Thanh, do vết Th nặng nên chuyển đến Bệnh viện đa khoa Kiên Giang cấp cứu, điều trị vết Th (bút lục số 21, 22, 30, 32, 61-65, 67, 69, 71-77).

Ngày 08/5/2023, Nguyễn Văn M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, tạm giam để điều tra.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị hại, người làm chứng thống nhất với nội dung sự việc như đã nêu trên.

- Vật chứng thu giữ:

14 (mười bốn) mảnh vở thủy tinh trong suốt, hình dạng phức tạp (bút lục số 31).

- Tại bản kết luận giám định số: 322/KLTTCT-PY ngày 15/5/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận đối với Th tích của Phạm Văn Tr như sau:

1. Các kết quả chính: Vết Th phần mềm vùng bụng – hông trái, cẳng tay phải và cẳng tay trái (vết 1, 2, 3).

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn Th cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn Th cơ thể của Phạm Văn Tr thời điểm giám định là 06% (sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

2.2. Vật gây Th tích: Vật có góc cạnh sắc (bút lục số 53-55).

- Tại bản kết luận giám định số 380/KLVGTT-PY ngày 29/5/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận giám định vật gây Th tích như sau:

Căn cứ kết quả giám định vật gây Th tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: 14 (mười bốn) mảnh vở thủy tinh gửi giám định cơ thể gây được Th tích ở vùng bụng, hông trái, cẳng tay phải và 03 (ba) vết ở cẳng tay trái của Phạm Văn Tr (bút lục số: 56-57A).

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với 02 kết luận giám định pháp y nêu trên.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Văn Tr yêu cầu Nguyễn Văn M bồi thường tiền thuốc, ăn uống, nằm viện và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Tại quyết định truy tố số 123/QĐ -VKSRG, ngày 30 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Cố ý gây Th tích” được quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, k khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 14 (mười bốn) mảnh vở thủy tinh trong suốt, hình dạng phức tạp, là vật chứng không có giá trị.

Theo lệnh nhập kho vật chứng số: 102/LNK-CSĐT-ĐTTH ngày 20/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Rạch Giá.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo yêu cầu của bị hại nhưng chưa bồi thường, do đó đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận đã thực hiện hành vi cố ý gây Th tích nhằm mục đích chống đối lại lực lượng Công an phường Vĩnh Thanh đang làm nhiệm vụ theo Quyết định truy tìm số 23/QĐ-TT ngày 28/6/2021 của Trưởng Công an thành phố Rạch Giá tại khu vực trước căn nhà địa chỉ số 93, đường Lê Thị Hồng G , phường Vĩnh Th, thành phố Rạch G đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản ảnh hiện trường; lời khai của bị hại, người làm chứng… Từ đó có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây Th tích quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của bị cáo: Là người phải chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 32/QĐ-TA ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá nhưng bị cáo đã bỏ trốn. Đến khi bị lực lượng Công an phường Vĩnh Thanh phát hiện, khống chế thì bị cáo kháng cự quyết liệt dẫn đến việc dùng hung khí nguy hiểm gây Th tích đối với đồng chí Phạm Văn Tr (Cán bộ Tổ phòng chống tội phạm Công an phường Vĩnh Thanh đang làm nhiệm vụ), qua giám định tỷ lệ tổn Th cơ thể do Th tích gây nên là 06%. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem nhẹ sức khỏe con người, làm mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Vì vậy đứng trước phiên tòa hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình đã gây ra, do đó cần phải xử lý bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm cảnh tỉnh, răn đe đối với mọi người có ý thức chấp hành pháp luật nói chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể bị cáo là người có nhân thân tốt (thể hiện bằng việc chưa có tiền án, tiền sự), trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần thiết áp dụng các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a, k khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Cố ý gây Th tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (06/5/2023).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 14 (mười bốn) mảnh vở thủy tinh trong suốt, hình dạng phức tạp, là vật chứng không có giá trị.

Theo lệnh nhập kho vật chứng số: 102/LNK-CSĐT-ĐTTH ngày 20/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Rạch Giá và Quyết định chuyển vật chứng số: 91/QĐ-VKS ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 585, 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn M bồi thường cho bị hại Phạm Văn Tr số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sau khi án có hiệu lực.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Án phí hình sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu số tiền (10.000.000 đồng x 5%) = 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/6/2023). Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ