- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự n m; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––
Bản án số: 97/2023/HS-ST
Ngày: 30-11-2023
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Xuân Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Xuân Mai
Ông Hoàng V n Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 n m 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2023/HS-ST ngày 03 tháng 11 n m 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 n m 2023 đối với các bị cáo:
1. NGUY N T N P, giới tính: nam, sinh ngày 11-7-2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 34/1 đư ng T, Phư ng 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; ch ở: 51/1 đư ng C, Phư ng 3, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ v n hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T n H và bà Ngô Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị bắt phạm tội quả tang ngày 15-02-2023. (Có mặt).
2. ĐINH TH BÍCH N, giới tính: n , sinh ngày 28-12-2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 52/4 đư ng L, Phư ng 2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; ch ở: 6/32 đư ng N, Phư ng 2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nội tr ; trình độ v n hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh K T và bà B i Thị Thu H; có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp „‟C m đi kh i nơi cư trú‟‟ t ngày 21-02-2023. (Có mặt).
3. B I TH THU H, giới tính: n , sinh ngày 21-3-1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 6/32 đư ng N, Phư ng 2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nội tr ; trình độ v n hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông B i Quang L (chết) và bà Đ Thị Thu H (chết); có chồng và 02 con; tiền án, tiền sự: kh ng; bị bắt, tạm gi , tạm giam t ngày 16-02-2023 đến ngày 14-7-2023 đư c thay đ i b ng biện pháp ng n chặn „‟C m đi kh i nơi cư trú‟‟. (Có mặt).
Bị hại: Nguyễn Thụy Hồng V
Địa chỉ: 31/7 đư ng L, Phư ng 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2022, chị Nguyễn Thụy Hồng V vay của Nguyễn T n P số tiền là 4.000.000 đồng, trả tiền lãi m i ngày 60.000 đồng. Sau khi P cho V mư n tiền khoảng một tuần thì chị V giới thiệu thêm 03 ngư i quen của V (H, V, O nhà ở ch Bàn C ) để vay tiền của P, số tiền 3.000.000 đồng/ngư i với lãi su t 45.000 đồng/ 01 ngày nhưng kh ng có gi y t . Đến ngày 08/02/2023, V thông báo cho P là chị H không còn khả n ng trả tiền nên hẹn P đến nhà chị H tại số 2/6/4 Nguyễn Thiện Thuật, Phư ng 3, Quận 3 để thu tiền n . Do bận việc nên P nói Ph ng Vĩnh T (em ngoài xã hội của P) và Nguyễn Đào Trung P (em của chị V) đến nhà chị H đòi tiền. Khi T và P đến nhà chị H đòi tiền và xảy ra cự cãi thì bị C ng an Phư ng 3 Quận 3 m i về trụ sở làm việc đến tối c ng ngày thì đư c giải quyết cho về. Sau khi đư c về, T nói cho P biết việc V đã làm giả gi y n (tự ý ghi gi y n gi a P và chị H và đưa ngư i khác ký khống). Nghe vậy, P nói cho ông Đinh K T, B i Thị Thu H, Đinh Thị Bích N biết về việc trên. P gọi điện thoại cho V chửi bới, h m dọa, đòi đánh V do Vy đã l a P. Sau đó, P bàn bạc với H, N dựng chuyện đã đưa cho Công an Phư ng 3, Quận 3 số tiền 30.500.000 đồng để cho T và P đư c về và yêu cầu chị V phải đưa cho P 25.000.000 đồng.
Khoảng 11 gi 30 phút ngày 09/02/2023, chị V đến nhà P tại 51/ C, Phư ng 3, Quận 3 để nói chuyện theo yêu cầu của P. Tại đây, N yêu cầu chị V phải trả số tiền 25.000.000 đồng, chị V nói kh ng có tiền thì N, P, H chửi bới, đe doạ đánh và yêu cầu chị V để lại tài sản thế ch p nhưng chị V nói không có. Lúc này, H nói P l y gi y yêu cầu chị V viết gi y n với nội dung ghi “gi y hốt hụi” số tiền 25.000.000 đồng, m i ngày chị V phải đóng tiền lãi là 250.000 đồng. Do lo s nên chị V đã thực hiện theo yêu cầu của nhóm N và đư c cho về. Ngày 10/02/2023, chị V đã trả cho P số tiền 300.000 đồng tiền lãi. Sau đó, chị V kh ng có tiền đóng tiếp thì N và H đến nhà ngư i thân của chị V (không rõ địa chỉ) gây áp lực yêu cầu trả tiền nhưng kh ng gặp đư c chị V. Các ngày 09, 11 và 12/02/2023, H và P nhắn tin cho chị V đe dọa buộc chị V trả số tiền 25.000.000 đồng. Ngày 14/02/2023, chị V điện thoại vào số của ng Đinh K T (là cha của N) hẹn đến đầu ch Bàn C để xin trả trước 5.000.000 đồng. Khoảng 10 gi 30 c ng ngày, chị V c ng mẹ là bà Đ Ngọc T đến trước số 664 Nguyễn Đình Chiểu, Phư ng 3, Quận 3 thì gặp H và N. Tại đây hai bên xảy ra mâu thuận cự cãi, dẫn đến x xát thì bị C ng an Phư ng 3, Quận 3 m i về trụ sở làm việc.
Quá trình khám xét tại nhà số 51/1 C, Phư ng 3, Quận 3, C ng an Quận 3 còn thu gi tại lầu 1 (phòng của N): 01 cuốn s màu đen có ghi việc vay mư n tiền, 01 gi y hốt hụi và 01 s hộ khẩu mang tên Đặng Thị Thanh H (của B i Thị Thu H); 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha biển số 59K2-799.88, 01 xe máy hiệu Honda Sonic biển số 50N1-787.68, xe máy hiệu Honda SH biển số 59K2-788.99, xe máy hiệu Honda biển số 59K2-695.54 và 01 xe máy hiệu Honda Super Cup biển số 59X1-698.98 và 08 gi y hốt hụi, 02 h p đồng mua bán xe, 04 h p đồng uỷ quyền xe gắn máy, 01 c n cước c ng dân tên Đ Ngọc Anh T, 15 t đ la Mỹ mệnh giá 100USD, số tiền 570.000.000 đồng, 01 s i dây kim loại màu vàng dài 57cm, 04 gói nylon chứa ch t bột màu trắng (nghi là ma tuý), 01 ống hút b ng g và 01 đĩa b ng g (dụng cụ để sử dụng ma tuý). Tại lầu 4 (phòng của Phát): Thu gi 01 túi nilon chứa viên ném màu nâu, 01 ống hút b ng g , 01 con dao màu đen, 17 c n cước c ng dân, 18 gi y vay tiền, 01 gi y hốt hụi ghi tên Nguyễn Tiến Tâm, 02 gi y phép lái xe tên Phạm Hoàng Phi và Mai V n Minh Nhật, 01 cuốn tập học sinh có nội dung cho vay và số tiền 153.700.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - C ng an Quận 3, Nguyễn T n P, B i Thị Thu H, Đinh Thị Bích N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai như sau:
B i Thị Thu H khai: 01 cuốn s màu đen ghi nội dung cho Đặng Thị Thanh Hà, ngư i tên Thanh và Hà Thị Tươi (kh ng rõ lai lịch) vay tiền. Trong đó, cho Thanh Hà vay góp số tiền 5.000.000 đồng, m i ngày góp 100.000 đồng, đã góp đư c 06 ngày với số tiền 600.000 đồng thì kh ng đóng tiếp. Còn Thanh và Tươi m i ngư i vay 1.000.000 đồng nhưng sau khi mư n tiền thì kh ng góp, kh ng rõ ở đâu.
Đinh Thị Bích N khai: 05 xe máy kèm theo 02 h p đồng mua bán xe và 04 h p đồng uỷ quyền xe gắn máy thu gi là xe của nh ng ngư i tên Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hà Duy, Nguyễn Hoàng Duy, Lê Tèo gửi nh Ngọc tìm ngư i bán giúp. Số tiền 570.000.000 đồng và 15 t tiền đ la Mỹ mệnh giá 100USD, 01 s i dây kim loại màu vàng là của ng Đinh K T cha của N bán c n nhà tại số 56/2 L, Phư ng 2, Quận 3 mà có và gửi nh N c t gi giúp; 08 gi y hốt hụi là của Ncho 04 ngư i vay gồm Hà V n Vũ Huy vay 2.000.000 đồng, kh ng tính lãi; Phạm Thị Diệp Lớn vay 1.000.000 đồng, m i ngày góp 50.000 đồng trong 24 ngày, t ng số tiền góp là 1.200.000 đồng; Thi Ngọc Anh Thư vay 2 lần, lần 1 là 1.000.000 đồng, m i ngày góp 50.000 đồng trong 24 ngày, t ng số tiền góp là 1.200.000 đồng. Lần 2 vay 1.500.000 đồng, m i ngày góp 75.000 đồng trong 04 ngày, t ng số tiền góp là 300.000 đồng thì kh ng đóng tiếp; Nguyễn Thị Kim Thảo vay 3 lần. Trong đó, lần 1 và lần 2 vay số tiền 1.000.000 đồng, m i ngày góp 50.000 đồng trong 24 ngày, t ng số tiền góp là 1.200.000 đồng. Lần 3 vay số tiền 1.500.000 đồng, m i ngày góp 75.000 đồng trong 24 ngày, t ng số tiền góp là 1.800.000 đồng. T ng số tiền cho vay là 9.000.000 đồng, thu l i b t chính 1.026.667 đồng.
Riêng đối với 04 gói nylon chứa ch t bột màu trắng (nghi là ma tuý), 01 ống hút b ng g và 01 đĩa b ng g là của Vũ Hải Đ chồng của Nnhưng N kh ng biết Đ c t gi ma tuý.
Nguyễn T n P khai: 01 túi nylon chứa viên ném màu nâu là phần ma tuý còn lại chưa sử dụng hết do P mua của ngư i đàn ng kh ng rõ lai lịch trên đư ng B i Viện khoảng 5 tháng trước với giá 350.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Đối với 17 c n cước c ng dân mang tên: Nguyễn Thuỵ Hồng Vy, Tạ Tu n An, Võ V n Hải, Hà Phước Duy, Vũ Đình Phát, B i Triệu Kiều Ngân, Ng Bích Thuỷ, Nóp Hoàng Khang, Đặng Hoàng Vũ, Phan Thị Kim Chi, Nguyễn Phúc Thịnh, Nguyễn Thanh H ng, Chung Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Trịnh Chí Kiên, Nguyễn Thị Hoàng Lan, Vũ Thanh T ng; P khai do nh ng ngư i đã vay tiền của Pđể lại nhưng kh ng lưu gi chứng t cho vay và cũng kh ng nhớ th i điểm cho vay. Đối với 02 gi y phép lái xe gồm 01 gi y tên Phạm Hoàng Phi là của Phi đưa cho Pđể vay số tiền 5.000.000 đồng nhưng sau khi vay thì kh ng trả tiền và kh ng rõ ở đâu, còn 01 gi y tên Mai V n Minh Nhựt thì Nhựt khai bị m t gi y phép lái xe. Đối với 01 gi y hốt hụi tên Nguyễn Tiến Tâm là do Pcho Tâm vay số tiền 5.000.000 đồng, m i ngày đóng 75.000 đồng, đư c 60 ngày thì trả gốc, t ng số tiền Tâm trả cho P là 9.500.000 đồng. Đối với 18 gi y vay tiền, có 10 ngư i gồm: Nguyễn Hu nh Đức, Lê Trư ng Sơn, Nguyễn Thị Vĩnh, Ng Bích Thuỷ (vay 3 lư t), Nguyễn Minh Khang, Võ Thị Thu Minh, Phan Thị Kim Chi, Nguyễn Hoàng Khang, Phan Lệ Trinh, Đoàn Trương Thu Hiền. Còn lại 08 ngư i sau khi vay tiền (gồm Dương Cẩm Hào, 01 gi y vay kh ng đề tên địa chỉ, Trương Thị Mộng Thu, Trần Thị Xuân, Vũ Vĩnh Phát và Trần Lê Ngọc Vũ và ngư i tên Vân, Oanh đã kh ng trả lại cho P.
Ngoài ra, P khai còn cho Nguyễn Thụy Hồng V vay số tiền 4.000.000 đồng, Võ Thị Kim Ngân vay 5.000.000 đồng và Nguyễn Phước Tiến vay 11.000.000 đồng. Pkhai việc vay mư n và thu tiền góp hàng ngày b ng tiền mặt, t ng số tiền cho 22 ngư i vay là 111.000.000 đồng. Trong đó, đã thu đư c của 14 ngư i và thu l i b t chính 21.591.667 đồng.
Đối với 01 cuốn tập 200 trang Pd ng để ghi chép việc cho vay, còn số tiền 153.700.000 đồng là tiền gia đình cho để trang trải cuộc sống.
Tại bản Kết luận giám định số 1464-KL/KTHS ngày 22/2/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận 01 viên nén màu nâu, có trọng lư ng 0,4017g là ma tuý ở thể rắn, loại MDMA.
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKS-HS ngày 01-11-2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Nguyễn T n P về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Tàng tr trái phép ch t ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017. Truy tố bị cáo Đinh Thị Bích N và B i Thị Thu Hvề tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017.
Tại phiên tòa h m nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt:
- bị cáo Nguyễn T n P t 01 n m 06 tháng đến 02 n m t về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và t 01 n m đến 01 n m 06 tháng t về tội “Tàng tr trái phép ch t ma tuý”; t ng h p hình phạt t của hai tội t 02 n m 06 tháng đến 03 n m 06 tháng t ;
- bị cáo B i Thị Thu Ht 01 n m đến 01 n m 06 tháng t về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo; th i gian thử thách t 02 n m đến 03 n m;
- bị cáo Đinh Thị Bích Nt 01 n m đến 01 n m 06 tháng t về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo; th i gian thử thách t 02 n m đến 03 n m.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; tịch thu, tiêu hủy số vật chứng còn lại; giao trả số tiền 153.700.000 đồng cho bị cáo Nguyễn T n P.
Các bị cáo Nguyễn T n P, B i Thị Thu H và Đinh Thị Bích Nđã nhận th y hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
[2] C n cứ biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang do C ng an Phư ng 3, Quận 3 lập ngày 15-02-2023; bản Kết luận giám định số 1464/KL-KTHS ngày 22-02-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - C ng an Thành phố Hồ Chí Minh; l i khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa h m nay là hoàn toàn ph h p với l i khai của ngư i làm chứng c ng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: ngày 15-02-2023, bị cáo Nguyễn T n P đã bị bắt quả tang có hành vi c t gi trái phép 0,4017g loại MDMA là đã phạm tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy” thuộc trư ng h p đư c qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017.
C n cứ l i khai của các bị cáo Nguyễn T n P, B i Thị Thu H, Đinh Thị Bích N tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa h m nay hoàn toàn ph h p với l i khai của ngư i bị hại, ngư i làm chứng c ng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận th y: khoảng tháng 11-2022, chị Nguyễn Thụy Hồng Vvay của Nguyễn T n P số tiền là 4.000.000 đồng, trả tiền lãi m i ngày 60.000 đồng. Sau đó chị Vgiới thiệu thêm 03 ngư i quen của V là Hi, V, O để vay tiền của P, số tiền 3.000.000 đồng/ngư i với lãi su t 45.000 đồng/ 01 ngày nhưng kh ng có gi y t . Đến ngày 08-02-2023, chị V thông báo cho P là chị Hkh ng còn khả n ng trả tiền nên hẹn P đến nhà chị H để thu tiền n . Do bận việc nên P nói Ph ng Vĩnh T và Nguyễn Đào Trung P đến nhà chị H đòi tiền. Khi T và P đến nhà chị Hđòi tiền và xảy ra cự cãi thì bị C ng an Phư ng 3 Quận 3 m i về trụ sở làm việc đến tối c ng ngày thì đư c giải quyết cho về. Sau khi đư c về, Tnói cho Pbiết việc V đã làm giả gi y n (tự ý ghi gi y n gi a Pvà chị H và đưa ngư i khác ký khống); nghe vậy P nói cho ông Đinh K T, B i Thị Thu H, Đinh Thị Bích N biết về việc trên; Pgọi điện thoại cho V chửi bới, h m dọa, đòi đánh V do Vđã l a P. Sau đó, P bàn bạc với H, Ndựng chuyện đã đưa cho Công an Phư ng 3, Quận 3 số tiền 30.500.000 đồng để cho T và P đư c về và yêu cầu chị Vphải đưa cho P 25.000.000 đồng.
Khoảng 11 gi 30 phút ngày 09-02-2023, chị Vđến nhà Ptại 51/1 C, Phư ng 3, Quận 3 để nói chuyện theo yêu cầu của P. Tại đây, N yêu cầu chị Vphải trả số tiền 25.000.000 đồng, chị V nói kh ng có tiền thì N, P, Hchửi bới, đe dọa đánh và yêu cầu chị V để lại tài sản thế ch p nhưng chị Vnói không có. Lúc này, H nói P l y gi y yêu cầu chị Vviết gi y n với nội dung ghi “gi y hốt hụi” số tiền 25.000.000 đồng, m i ngày chị V phải đóng tiền lãi là 250.000 đồng, do lo s nên chị V đã thực hiện theo yêu cầu của nhóm Nvà đư c cho về. Ngày 10-02-2023, chị V đã trả cho Psố tiền 300.000 đồng tiền lãi; sau đó chị Vkh ng có tiền đóng tiếp thì N, H và P liên tục gây áp lực, đe dọa buộc chị V trả số tiền 25.000.000 đồng. Ngày 14-02-2023, chị V điện thoại cho ng Đinh K Thẹn đến đầu ch Bàn C để xin trả trước 5.000.000 đồng. Khoảng 10 gi 30 c ng ngày, chị V c ng mẹ là bà Đ Ngọc T đến trước số 664 Nguyễn Đình Chiểu, Phư ng 3, Quận 3 thì gặp H và N; tại đây hai bên xảy ra mâu thuẫn cự cãi, dẫn đến x xát thì bị C ng an Phư ng 3, Quận 3 m i về trụ sở làm việc. Qua diễn biến sự việc trên đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn T n P, Bùi Thị Thu Hvà Đinh Thị Bích N đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017.
[3] Trước khi thực hiện việc phạm tội bị cáo Nguyễn T n Phoàn toàn biết rõ tác hại của việc mua bán cũng như tàng tr và sử dụng trái phép ch t ma túy, nhưng vẫn b t ch p và lao vào con đư ng phạm tội. Hành vi tàng tr trái phép ch t ma túy do bị cáo P thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các ch t ma túy, bài tr tệ nạn sử dụng trái phép ch t ma túy và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội.
Các bị cáo Nguyễn T n P, B i Thị Thu H và Đinh Thị Bích N hoàn toàn biết rõ việc d ng thủ đoạn để uy hiếp tinh thần nh m chiếm đoạt tài sản của ngư i khác là hành vi sai trái, sẽ bị xã hội lên án, pháp luật tr ng trị nhưng các bị cáo đã b t ch p lao vào con đư ng phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản h p pháp của c ng dân đư c pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng x u đến trật tự trị an xã hội; do vậy các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi mình đã gây ra.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn T n P phạm hai tội; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017 đối với bị cáo là có c n cứ.
Hành vi cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo P, Hvà N mang tính đồng phạm giản đơn; trong đó bị cáo P là k rủ rê, đề xướng; các bị cáo H và N là nh ng ngư i giúp sức tích cực; áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017 đối với các bị cáo là có c n cứ.
Quá trình thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản, chị V đã đưa cho bị cáo P số tiền 300.000 đồng; quá trình điều tra chị V kh ng yêu cầu bồi thư ng, xét đây là sự tự nguyện, do đó tòa miễn xét.
[4] Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa h m nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ thật sự n n n hối cải; do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Bị cáo H hiện đang điều trị bệnh đau đầu Migraine; bị cáo N đang phải nu i con nh dưới 36 tháng tu i; do đó áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017 là có c n cứ.
Xét các bị cáo Bùi Thị Thu H, Đinh Thị Bích N có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và trong trư ng h p có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi thư ng trú cụ thể, rõ ràng; do vậy kh ng cần cách ly các bị cáo ra kh i xã hội cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành c ng dân tốt sau này.
[5] Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax và 01 chiếc điện thoại di động Samsung là c ng cụ, phương tiện d ng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; các vật chứng còn lại kh ng có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; số tiền 153.700.000 đồng của bị cáo Pkh ng liên quan đến vụ án nên giao trả lại.
[6] Xét hành vi cho vay của các bị cáo Nguyễn T n P, B i Thị Thu H và Đinh Thị Bích N kh ng đủ định lư ng để xử lý về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên Cơ quan điều tra kh ng xử lý là có c n cứ.
[7] Đối với Đinh K T kh ng biết việc các bị cáo H, P, N uy hiếp, ép buộc chị Nguyễn Thụy Hồng Vviết gi y n tiền nên cơ quan điều tra kh ng xử lý hình sự và đã trả lại số tiền 570.000.000 đồng, 15 t tiền đ la Mỹ mệnh giá 100USD và 01 s i dây kim loại màu vàng cho ông T là có c n cứ, do đó tòa miễn xét.
[8] Đối với Vũ Hải Đ có hành vi tàng tr 04 gói nylon chứa ch t bột màu trắng, 01 ống hút b ng g và 01 đĩa b ng g đã bị Cơ quan điều tra khởi tố điều tra đề nghị truy tố và ngày 07-7-2023 Tòa án nhân dân Quận 3 xử 01 n m t về tội „‟Tàng tr trái phép ch t ma tuý‟‟. Đ kh ng biết và kh ng tham gia c ng với N, H, P cưỡng đoạt tài sản của chị Vnên Cơ quan điều tra kh ng xử lý Đvề hành vi này là có c n cứ.
[9] Đối với 05 xe máy, 02 h p đồng mua bán và 04 h p đồng ủy quyền Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở h u, ngư i quản lý h p pháp theo quy định, do đó tòa miễn xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn T n P đã phạm tội “Tàng tr trái phép ch t ma tuý” và “Cưỡng đoạt tài sản”; các bị cáo B i Thị Thu H và Đinh Thị Bích N đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 170; Điều 17, Điều 58; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn T n P 01 (một) n m t về tội “Tàng tr trái phép ch t ma tuý”; 01 (một) n m 06 (sáu) tháng t về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. T ng h p hình phạt, buộc bị cáo phải ch p hành hình phạt t chung cho cả hai tội là 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng t ; th i hạn t tính t ngày bị bắt phạm tội quả tang là ngày 15 tháng 02 n m 2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đ i, b sung n m 2017;
Xử phạt bị cáo B i Thị Thu H 01 (một) n m 03 (ba) tháng t nhưng cho hưởng án treo; th i gian thử thách là 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tính t ngày tuyên án.
Giao B i Thị Thu Hcho Ủy Ban nhân dân Phư ng 2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong th i gian thử thách. Gia đình ngư i bị kết án có trách nhiệm phối h p với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục ngư i đó.
Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N 01 (một) n m 03 (ba) tháng t nhưng cho hưởng án treo; th i gian thử thách là 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tính t ngày tuyên án.
Giao Đinh Thị Bích N cho Ủy Ban nhân dân Phư ng , Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong th i gian thử thách. Gia đình ngư i bị kết án có trách nhiệm phối h p với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục ngư i đó.
Trong trư ng h p ngư i đư c hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong th i gian thử thách, ngư i đư c hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i đư c hưởng án treo phải ch p hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu xanh, khe sim có số 354703755033355 và 01 điện thoại di động mặt sau có ghi ch SAMSUNG, Imei: 357985/64/014606/5, màu trắng. Tình trạng đã qua sử dụng, kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong;
Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói đư c niêm phong có d u vân tay, ch ký, ghi tên Nguyễn T n P, hình d u mộc tròn của C ng an Phư ng 3, Quận 3 (mẫu vật còn lại sau giám định của vụ 308/23-Q3); 01 con dao kim loại màu đen, phần lưỡi dao có in ch Columbia Survial knife, MADE IN USA; 01 gói đư c niêm phong hình d u mộc tròn của C ng an Phư ng 3, Quận 3; d u vân tay, ch ký, ghi tên Nguyễn T n P và 01 túi xách màu đen.
Giao trả cho bị cáo Nguyễn T n P số tiền 153.700.000 đồng (một tr m n m mươi ba triệu bảy tr m ngàn).
(Tài sản giao trả; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước và tịch thu, tiêu hủy ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 696/LNK ngày 29-5-2023 và Gi y nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.906.1612 ngày 09-8-2023 tại Kho bạc nhà nước Quận 3 của C ng an Quận 3).
Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội.
M i bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai tr m ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, các bị cáo đư c quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngư i bị hại đư c quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tống đạt h p lệ hoặc niêm yết bản án.
Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo B i Thị Thu H và Đinh Thị Bích N.
| Nơi nhận : - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 3; - Công an Quận 3; - Sở Tư pháp; - Chi cục Thi hành án dân sự Q3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (…) | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vƣơng Xuân Đức |