vanban.org

Bản án 97/2023/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Văn N đối với bị đơn bà Đỗ Thanh H về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Văn N ly hôn với bà Đỗ Thanh H. Về con chung: Ông Trịnh Văn N xác nhận không có con chung, con nuôi không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Văn HỒng - Đỗ THanh Lam"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Văn N đối với bị đơn bà Đỗ Thanh H về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 07 - 2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Song Hoàn.

2. Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiên – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 338/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1956;

Địa chỉ: A6 T03-242 đường C, phường D, thành phố Y, tỉnh X. (vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Đỗ Thanh H, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Số 69 Nguyễn Thiện T, phường D, thành phố Y, tỉnh X. (vắng mặt, có yêu cầu đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/05/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trịnh Văn N trình bày: Ông và bà Đỗ Thanh H tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Y, tỉnh X ngày 04 tháng 05 năm 2021. Sau khi kết hôn, ông và bà H sống với nhau không hạnh phúc. Sống chung được 06 tháng thì bà H bỏ đi ra ngoài sống riêng. Ông và bà H sống mỗi người một nơi từ tháng 01 năm 2022 cho đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, ông N cảm thấy sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông N yêu cầu được ly hôn với bà H.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông N xác nhận không có con chung, con nuôi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Đỗ Thanh H: Bà Đỗ Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng bà H không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn ông Trịnh Văn N, bị đơn bà Đỗ Thanh H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên không tham gia phiên tòa.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Y thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Mâu thuẫn giữa ông N và bà H đã trầm trọng, không thể hàn gắn làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung ông N xác nhận không có con chung, con nuôi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Ông Trịnh Văn N có đơn khởi kiện ly hôn với bà Đỗ Thanh H, bà H có địa chỉ cư trú tại thành phố Y nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Y theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn ông Trịnh Văn N, bị đơn bà Đỗ Thanh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Văn N và bà Đỗ Thanh H tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Y, tỉnh X ngày 04 tháng 05 năm 2021. Sau khi kết hôn, ông N xác nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng sống không hạnh phú, bà H bỏ nhà ra sống riêng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Thời gian không chung sống với nhau kéo dài dẫn đến tình cảm của ông N dành cho bà H không còn nên yêu cầu được ly hôn với bà H.

Qua xác minh tại địa phương cho biết ông N và bà H có xảy ra mâu thuẫn với nhau. Cuối năm 2021, bà H chuyển đi nơi khác sống không thấy trở về nhà. Qua đó thể hiện việc ông N và bà H mâu thuẫn với nhau là có thật.

Xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc.Vợ chồng phải quan tâm, yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau về mọi mặt. Về phía bị đơn bà H đã được triệu tập nhiều lần đến làm việc nhưng bà không đến và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của ông N, chứng tỏ bà H không có ý muốn hàn gắn gia đình. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa ông N và bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc ông N yêu cầu được ly hôn với bà H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông N xác nhận không có con chung, con nuôi.

Tài sản chung và nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông N được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 203, Khoản 1 Điều 227, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Văn N đối với bị đơn bà Đỗ Thanh H về việc ly hôn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Văn N ly hôn với bà Đỗ Thanh H.

2. Về con chung: Ông Trịnh Văn N xác nhận không có con chung, con nuôi không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trịnh Văn N được miễn tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh X xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ