- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thanh B đối với bị đơn bà Võ Thị Thu T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 97/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tống Văn Tâm
Bà Huỳnh Anh Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 242/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh B, sinh năm 1979.
Địa chỉ thường trú: Tổ G, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Đường T, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Tổ G, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày:
Ông Đỗ Thanh B và bà Võ Thị Thu T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn năm 2000 tại UBND xã K, huyện T (nay là phường K, thành phố T), tỉnh Bình Dương, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 142, ngày 20/12/2000.
Trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, lối sống, không có sự tin tưởng lẫn nhau. Bà T thường xuyên tụ tập bạn bè chơi cờ bạc, không quan tâm chăm sóc gia đình, chồng con. Hai vợ chồng đã nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn nhưng không có kết quả. Từ tháng 02/2023 đến nay thì hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Võ Thị Thu T.
Về con chung: Ông Đỗ Thanh B và bà Võ Thị Thu T có 02 con chung là Đỗ Thanh T1, sinh ngày 21/5/1996 và Đỗ Thị Kim T2, sinh ngày 18/3/2006. Ông Đỗ Thanh B yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Thị Kim T2, không yêu cầu bà Võ Thị Thu T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Đỗ Thanh T1 đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Võ Thị Thu T nhưng bà T không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Thanh B vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Võ Thị Thu T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Đỗ Thanh B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Thu T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn bà Võ Thị Thu T đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Thanh B vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn bà Võ Thị Thu T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B, bà T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ngày 20/12/2000, ông Đỗ Thanh B và bà Võ Thị Thu T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Bình Dương nên quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà T là hợp pháp theo quy định tại Điều 5 và Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Xét thấy, ông B xác định giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, lối sống, không có sự tin tưởng lẫn nhau. Bà T thường xuyên tụ tập bạn bè chơi cờ bạc, không quan tâm chăm sóc gia đình, chồng con. Hai vợ chồng đã nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn nhưng không có kết quả. Từ tháng 02/2023 đến nay thì hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà T nhiều lần để tiến hành hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà T đều vắng mặt, điều này chứng tỏ bà T cũng không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa ông B và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông B là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, ông Đỗ Thanh B và bà Võ Thị Thu T có 02 con chung là Đỗ Thanh T1, sinh ngày 21/5/1996 và Đỗ Thị Kim T2, sinh ngày 18/3/2006. Xét thấy, ông B có đủ điều kiện nuôi con và cháu T2 có nguyện vọng ở chung với ông B. Bà T cũng không có yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, việc ông B yêu cầu được trực tiếp nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận. Đối với con chung là Đỗ Thanh T1, sinh ngày 21/5/1996 đã trên 18 tuổi, các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp.
[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Ông Đỗ Thanh B phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thanh B đối với bị đơn bà Võ Thị Thu T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Thanh B được ly hôn với bà Võ Thị Thu T.
1.2. Về con chung: Giao con chung là Đỗ Thị Kim T2, sinh ngày 18/3/2006 cho ông Đỗ Thanh B được quyền trực tiếp nuôi. Đối với con chung là Đỗ Thanh T1, sinh ngày 21/5/1996 đã trên 18 tuổi, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đỗ Thanh B phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0007780 ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - CCTHADS thành phố Tân Uyên; - UBND phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Trung |