vanban.org

Bản án 97/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 12 – 2023
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đàm Thị Thanh Loan

Bà Lê Thị Thúy Kiều

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thuận Phát – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng, Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2023/TLST

- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 384/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/11/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1979 (có yêu cầu giải quyết mặt)

- Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ : ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án ông Lê Văn T trình bày như sau:

Tôi và chị Lê Thị L có đăng ký kết hôn vào ngày 15/5/2005 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N (nay là thị xã N), tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian đầu cuộc sống hôn nhân rất hạnh phúc, thời gian về sau chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chúng tôi đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không hàn gắn được. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2016 đến nay

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chúng tôi có 02 người con chung là cháu Lê Văn T1, sinh ngày 13/6/2001 và cháu Lê Thị Bích N, sinh ngày 01/5/2008. Hiện nay 02 cháu đang sống với tôi.

Tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung

Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung

Nay yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

- Về hôn nhân: yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị L.

- Về con chung: đối với cháu Lê Văn T1, sinh ngày 13/6/2001 đã trưởng thành không yêu cầu. Tôi yêu cầu giao con tên cháu Lê Thị Bích N, sinh ngày 01/5/2008 cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng và tôi không yêu cầu chị Lê Thị L cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu xem xét giải quyết.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Không yêu cầu xem xét giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Lê Thị L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn Lê Thị L.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng: ông Lê Văn T và bà Lê Thị L là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ông, bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà L là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống chung giữa vợ chồng ông T cho rằng đã phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống vợ chồng không còn hòa hợp nữa. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của ông T, bà L đã không còn sự quan tâm dành cho nhau, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không còn hạnh phúc, không còn gắn bó yêu thương với nhau và đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Sau khi thụ lý Tòa án có thông báo cho các bên để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, động viên các bên thỏa thuận nhưng phía bị đơn bà L không tham dự.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của ông T và bà L trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Văn T. Cho ông Lê Văn T ly hôn với bà Lê Thị L

- Về con chung: Quá trình sống chung ông T, bà L có 02 người con chung là Lê Văn T1, sinh ngày 13/6/2001 và Lê Thị Bích N, sinh ngày 01/5/2008. Đối với Lê Văn T1 đã trưởng thành không yêu cầu.

Xét yêu cầu nuôi con tên Lê Thị Bích N, sinh ngày 01/5/2008 của ông T thấy rằng ông T có đủ điều kiện nuôi con, hiên tại cháu vẫn phát triển bình thường và cháu cũng có nguyện vọng theo sống với ông T. Vì vậy, căn cứ Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Lê Thị Bích N, sinh ngày 01/5/2008 cho ông Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: ông T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà L không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: ông Lê Văn T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011056 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm. Như vậy, ông T đã nộp xong án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T. Cho ông Lê Văn T ly hôn với bà Lê Thị L

2. Về con chung: Đối với cháu Lê Văn T1, sinh ngày 13/6/2001 đã trưởng thành các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

- Giao cháu Lê Thị Bích N, sinh ngày 01/5/2008 cho ông Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: ông Lê Văn T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà Lê Thị L không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Không yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí sơ thẩm: ông Lê Văn T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011056 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm. Như vậy, ông T đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì những người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

* Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Phòng KTNV và THA TAND tỉnh;

- VKSND thị xã Ngã Năm;

- Chi cục THADS thị xã Ngã Năm;

- Các đương sự;

- UBND xã Vĩnh Quới;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Ngô Thị Mỹ Hạnh

Cỡ chữ