vanban.org

Bản án 97/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Kim H với anh Lý Văn V là vợ chồng.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/9/2002 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/11/2004 đều đã trưởng thành Hội đồng xét xử không xem xét về nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị KIm H xin ly hôn với anh Lý Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Kim H với anh Lý Văn V là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 5 năm 2023
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phi Hùng

Bà Lê Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 102/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 4, xã TB, huyện B, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lý Văn V, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Lý Văn V chung sống với nhau vào năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống đến nay vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được. Nên chị và anh V đã ly thân khoảng 01 năm nay. Chị xác định hiện vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lý Văn V.

Về con chung: Chị và anh Lý Văn V có 02 con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/9/2002 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/11/2004. Khi ly hôn các con đã trưởng thành có sức khỏe bình thường nên chị không đặt ra việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh V không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Chị và anh V không có nợ chung.

- Đối với anh Lý Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Kim H với anh Lý Văn V được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Lý Văn V có nơi cư trú tại xã P, huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Lý Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H với anh Lý Văn V chung sống với nhau vào năm 2001 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa chị H và anh V đã vi phạm pháp luật về mặt hình thức. Quá trình chung sống do có mâu thuẫn, nên chị V yêu cầu xin ly hôn. Nên căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim H với anh Lý Văn V có 02 con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/9/2002 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/11/2004. Xét thấy, cháu Nguyễn Thùy L và Nguyễn Thu T đều đã trưởng thành có sức khỏe bình thường nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Chị H khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị H khai không nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14, 51 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Kim H với anh Lý Văn V là vợ chồng.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thùy L, sinh ngày 06/9/2002 và Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/11/2004 đều đã trưởng thành Hội đồng xét xử không xem xét về nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu. Chị H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0003457 vào ngày 14/3/2023 được đối trừ, chị H đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị Kim H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lý Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ