vanban.org

Bản án 97/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim V, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim V và anh Võ Hoàng G.

Về việc nuôi con chung: 1. Chị Lê Thị Kim V được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng Võ Lê Kim Y, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2012, Võ Hoàng T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2015 và Võ Lê Hoàng K, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị V và anh G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim V, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim V và anh Võ Hoàng G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2023
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2023/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim V, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1989; Nơi cư trú: Ấp PLB, xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Võ Hoàng G, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1986; Nơi cư trú: Ấp PLA, xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 5 năm 2023, bản khai đề ngày 04 tháng 7 năm 2023 của nguyên đơn chị Lê Thị Kim V trình bày: Vào năm 2011, chị quen biết với anh Võ Hoàng G, sau thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho chị và anh Võ Hoàng G trong năm 2012. Sau khi tổ chức lễ cưới xong chị và anh G cùng nhau đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp ngày 05 tháng 10 năm 2012. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, đến năm 2016 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc trong gia đình, bất đồng quan điểm, dẫn đến cải nhau thường xuyên. Chị và anh G tuy sống chung nhà với nhau nhưng không còn quan tâm cho nhau nữa, chị nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn. Chị và anh G hàn gắn tình cảm nhiều lần, năm 2021 hàn gắn lần thứ nhất, tháng 10 năm 2022 chị nộp đơn kiện khởi kiện đến Tòa án thì anh chị được Tòa án hàn gắn tình cảm lần 2, nay không hàn gắn được tình cảm được nữa, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Võ Hoàng G. Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung Võ Lê Kim Y, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2012, Võ Hoàng T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2015 và Võ Lê Hoàng K, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2017, không yêu cầu anh Võ Hoàng G cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Võ Hoàng G đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 04 tháng 7 năm 2023 của cháu Võ Lê Kim Y trình bày: Ba mẹ ly hôn con muốn sống chung với mẹ.

Tại bản khai ngày 04 tháng 7 năm 2023 của cháu Võ Hoàng T trình bày: Ba mẹ ly hôn con muốn sống với mẹ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Kim V được ly hôn với anh Võ Hoàng G; về nuôi con chung: Giao 03 con chung Võ Lê Kim Y, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2012, Võ Hoàng T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2015 và Võ Lê Hoàng K, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2017 cho chị Lê Thị Kim V tiếp tục nuôi dưỡng, anh Võ Hoàng G không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị Kim V không yêu cầu; về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim V trình bày tự thỏa thuận, còn anh Võ Hoàng G không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về nợ chung: Chị Lê Thị Kim V trình bày không có, còn anh Võ Hoàng G không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Lê Thị Kim V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Hoàng G đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim V và anh Võ Hoàng G là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kim V đối với anh Võ Hoàng G, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Lê Thị Kim V thì cuộc sống của chị và anh Võ Hoàng G không hạnh phúc từ năm 2016 do hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc trong gia đình, bất đồng quan điểm, dẫn đến cải nhau thường xuyên, chị và anh G không còn quan tâm cho nhau nữa, chị và anh G hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng vẫn không được nữa. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Kim V với anh Hoàng G hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Kim V là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Lê Thị Kim V ly hôn với anh Hoàng G.

Về việc nuôi con: Chị Lê Thị Kim V yêu cầu được tiếp tục nuôi 03 con chung Võ Lê Kim Y, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2012, Võ Hoàng T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2015 và Võ Lê Hoàng K, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2017, không yêu cầu anh Võ Hoàng G cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Kim V và anh Hoàng G không còn sống chung và hiện nay thì các con chung do chị Kim V chăm sóc, nuôi dưỡng và các con đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Kim V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung, anh Hoàng G không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Kim V không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim V cho rằng anh chị đã tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Võ Hoàng G không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về nợ chung: Chị Lê Thị Kim V cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Võ Hoàng G không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim V, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim V và anh Võ Hoàng G.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Chị Lê Thị Kim V được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng Võ Lê Kim Y, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2012, Võ Hoàng T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2015 và Võ Lê Hoàng K, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2017.

2.2. Anh Võ Hoàng G không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim V chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004423 ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ