- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ng- Nguyễn Văn S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị NG và anh Nguyễn Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 97/2023/HNGĐ-ST Ngày 11-4-2023 V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị NG và anh S |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Tùng;
Ông Phạm Văn Lịch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị NG, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm 4, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị NG: Bà Phạm Thị Ninh-Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Minh Đức- Đoàn Luật sư tỉnh Nam Định
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm 4, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Có mặt bà Ninh; vắng mặt chị NG, anh S).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30-01-2023, bản tự khai ngày 10-02-2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị NG trình bày:
Chị Lê Thị NG và anh Nguyễn Văn S đăng ký kết hôn ngày 16-02-2006 tại Uỷ ban nhân dân xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà mẹ đẻ anh S tại xóm 4, xã HL. Quá trình chung sống, mặc dù đã có con chung nhưng vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là tính tình, quan điểm sống không hợp nên vợ chồng thường cãi, chửi nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên chị NG đã chủ động ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ cuối năm 2019 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị NG yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Hà Vy, sinh ngày 19-4-2007 và cháu Nguyễn Hà Phương, sinh ngày 04-5-2016; hiện cả hai con chung đang do chị NG nuôi dưỡng. Khi ly hôn, do anh S không có ý kiến về việc nuôi con thì chị NG nhận nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị NG xác định vợ chồng không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 15/TB-TLVA ngày 02-02-2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hợp lệ cho anh Nguyễn Văn S nhưng anh S không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị NG. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh S nhưng đến nay anh S vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị NG đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu của chị NG: Cho ly hôn giữa chị NG và anh S; giao cả 02 con chung cháu Nguyễn Hà Vy, sinh ngày 19-4-2007 và cháu Nguyễn Hà Phương, sinh ngày 04-5-2016 cho chị NG nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Lê Thị NG có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị NG, anh S là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị NG và anh Nguyễn Văn S là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã Hải Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 16-02-2006.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị NG đối với anh S thì thấy: Trong suốt quá trình chung sống, mặc dù đã có con chung nhưng do tính tính không hợp, quan điểm sống khác nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị NG, anh S đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ cuối năm 2019 cho đến nay. Trong suốt thời gian ly thân, chị NG, anh S cũng không có biện pháp để hòa giải, đoàn tụ gia đình. Mặt khác, anh S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, anh S đã biết được việc chị NG làm đơn xin ly hôn nhưng không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án, không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị NG. Trên cơ sở đơn đề nghị có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị NG và anh S; căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị NG và anh S đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị NG, cho chị NG ly hôn anh S là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lê Thị NG và anh Nguyễn Văn S có hai con chung là cháu Nguyễn Hà Vy, sinh ngày 19-4-2007 và cháu Nguyễn Hà Phương, sinh ngày 04-5-2016. Hiện các con chung đang ở với chị NG. Khi ly hôn, chị NG nhận nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau ly hôn của chị NG thì thấy: Chị NG hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; cháu Vy và cháu Phương đều trên bảy tuổi có nguyện vọng xin được ở với chị NG. Quá trình giải quyết vụ án, anh S không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị NG: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Hà Vy và Nguyễn Hà Phương cho chị Lê Thị NG tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị NG là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị NG xác định vợ chồng không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị NG phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị NG và anh Nguyễn Văn S.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Hà Vy, sinh ngày 19-4-2007 và cháu Nguyễn Hà Phương, sinh ngày 04-5-2016 cho chị Lê Thị NG trực tiếp nuôi dưỡng. Anh S không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị NG. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Hiện cháu Phương và cháu Vy đang do chị NG nuôi dưỡng nên hai bên không phải bàn giao con cho nhau.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị NG phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0006465 ngày 02-02-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Lê Thị NG đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định: 1 bản; - VKSND tỉnh+huyện: 2 bản; - Chi cục THADS huyện: 1 bản; - UBND xã Hải Lộc: 1 bản; - Các đương sự: 2 bản; - Lưu hồ sơ + VP: 3 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |