- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ANH V YÊU CẦU LY HÔN CHỊ L"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng V.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 97/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 3 - 2023 V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Lĩnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bé
Ông Lê Anh Chiến
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ, thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 496/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/11/2022 về việc tranh chấp“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1982 (xin vắng);
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: Ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 18/10/2022 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng V trình bày:
Về hôn nhân: Anh V và chị Nguyễn Thị Tuyết L cưới nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân X, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 20/9/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, không có tiếng nói chung, nên thường xuyên cải nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không hàn gắn được. Chị L tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hiện cuộc sống tự ai nấy lo, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh V yêu cầu được ly hôn với chị L.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo Q, sinh ngày 20/10/2012 hiện đang sống chung với chị L. Anh V tự nguyện giao cháu Q cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Q 18 tuổi, lao động được.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Tuyết L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị L vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, là không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Hoàng V, cho anh V ly hôn với chị L; Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo Q, sinh ngày 20/10/2012 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, lao động được. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án; Sự có mặt, vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hoàng V thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo;
Sự có mặt, vắng mặt của đương sự Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Hoàng V và chị Nguyễn Thị Tuyết L theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, anh V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh V, chị L.
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng V, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày, các chứng cứ do đương sự cung cấp thì anh V và chị Nguyễn Thị Tuyết L cưới nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân X, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 20/9/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, không có tiếng nói chung, nên thường xuyên cải nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không hàn gắn được. Chị L tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hiện cuộc sống tự ai nấy lo, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh V yêu cầu được ly hôn với chị L.
Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Tuyết L nhưng chị L không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của anh V và vắng mặt tại phiên tòa, cho thấy chị L không có thành ý hàn gắn tình cảm giữa anh chị. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì xem như chị L không có phản đối gì đối với yêu cầu ly hôn của anh V;
Vì thế Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh V và chị L không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được, cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Hoàng V.
Về con chung: Căn cứ lời trình bày của đương sự thì giữa anh V và chị L có một con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo Q, sinh ngày 20/10/2012. Anh V đồng ý giao con cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng; Căn cứ vào Bản tự khai ngày 06/12/2022, cháu Q thể hiện có nguyện vọng sống với chị L, nên cần tôn trọng ý kiến của cháu Q.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Tuyết L nhưng chị L vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của anh V. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì xem như chị L không có phản đối gì đối với yêu cầu của anh V;
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung không bị thay đổi liên tục môi trường nuôi dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, hiện tại con chung do chị L là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho nên cần tiếp tục giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo Q, sinh ngày 20/10/2012 cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Bảo Q, sinh ngày 20/10/2012 cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, lao động được, chị L không có ý kiến, không có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con và cũng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh V.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Anh V khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Hoàng V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo là đúng quy định pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 220, 227, 228, 233, 235 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng V.
1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng V được quyền ly hôn chị Nguyễn Thị Tuyết L.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo Q, sinh ngày 20/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Tuyết L chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Hoàng V cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo Q mỗi tháng 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, lao động được. Thời gian cấp dưỡng nuôi con khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Anh Nguyễn Hoàng V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Tuyết L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Hoàng V chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Hoàng V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh V đã nộp theo biên lai thu số 0025220 ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nên anh Nguyễn Hoàng V còn phải nộp thêm 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - UBND xã X; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lê Thị Lĩnh |